LỜI BÁC VANG VỌNG QUA SÁU MƯƠI NĂM
TỪ Ý CHÍ GIỮ NƯỚC ĐẾN KHÁT VỌNG KIẾN TẠO CƠ ĐỒ
ThS. Bùi Nguyễn Hồng Quyên
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Tóm tắt:
Bài
viết phân tích giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Lời kêu gọi “Không có gì
quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách đây 60 năm. Từ bối cảnh
khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, bài viết làm rõ ý chí kiên cường và tầm
nhìn chiến lược của Đảng, Bác Hồ. Qua đó, liên hệ sâu sắc với bối cảnh hiện nay
khi đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, thực hiện các mục tiêu Đại hội XIV.
Khẳng định rằng, tinh thần độc lập tự do năm xưa nay chuyển hóa thành khát vọng
kiến tạo cơ đồ hùng cường, đòi hỏi bứt phá về thể chế, nhân lực và văn hóa, đưa
Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Từ
khóa:
Chủ tịch Hồ Chí Minh; Đại hội XIV; kỷ nguyên vươn mình; khát vọng kiến tạo.
Lịch sử dân tộc Việt Nam
là dòng chảy liên tục của những cuộc kiến tạo, giữ gìn, dựng xây và bảo vệ. Mỗi
thế hệ kế thừa di sản tinh thần, vật chất từ thế hệ trước và trao truyền sức mạnh
cho thế hệ sau. Nhìn từ góc độ ấy, năm 1966 và năm 2026 hiện lên như hai cột mốc
mang tính bước ngoặt của cùng một hành trình, dẫu khác nhau về sứ mệnh và hoàn
cảnh, nhưng lại đồng điệu sâu sắc về một ý chí sắt đá - đó chính là ý chí mà Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hun đúc từ thuở còn trứng nước của cách mạng và tiếp
tục được thổi bùng qua mỗi khúc quanh lịch sử. Kỷ niệm 136 năm ngày sinh của
Người (19/5/1890 – 19/5/2026) và năm nay cũng đúng dịp tròn 60 năm Lời kêu gọi
đồng bào và chiến sĩ cả nước với tựa đề “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được
công bố lần đầu tiên vào ngày 17/7/1966, một sự trùng hợp không phải ngẫu
nhiên, mà như một lời nhắc nhở thầm lặng của lịch sử: ngọn lửa ý chí mà Người
thắp lên chưa bao giờ tắt, chỉ là đang soi sáng một chặng đường khác.
Sáu mươi năm trước, ngày 17/7/1966, trên làn sóng Đài
Tiếng nói Việt Nam, Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên sau khi đế quốc
Mỹ đã đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam, đồng thời mở rộng chiến
tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, sử dụng những vũ khí tàn bạo
nhất bom na-pan, chất độc hóa học, với mục tiêu đưa miền Bắc “trở lại thời kỳ đồ
đá”. Đây là giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trong hoàn cảnh đó, Lời kêu gọi của Người không phải
là lời an ủi, càng không phải lời tuyên truyền suông, đó là một lời khẳng định
về mặt ý chí, tinh thần và khát vọng đanh thép rằng: “Chiến tranh có thể kéo
dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành
phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không
có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất
nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. Chỉ một đoạn ngắn mà chứa
đựng ba tầng ý nghĩa: vừa vạch trần tội ác của kẻ thù, vừa khẳng định quyết tâm
chiến đấu không lay chuyển của quân và dân ta, và đồng thời gửi gắm khát vọng,
niềm tin kiến thiết sau ngày thống nhất.
Thời điểm ấy, mục tiêu tối thượng gói gọn trong sự quyết
tâm: còn sống phải sống tự do, muốn tự do phải chiến đấu. Ẩn sau những câu chữ
kiên cường ấy là một tư tưởng vượt thời gian: độc lập, tự do không phải là đích
đến cuối cùng, mà là nền tảng để từ đó dân tộc ta mới có thể xây dựng sự phồn
thịnh thực sự. Đáp lại lời hiệu triệu của Người, toàn thể dân tộc đã thực hiện
cuộc hành quân vĩ đại nhất thế kỷ XX, chấp nhận hy sinh mọi thứ để giành lại
giang sơn. Chặng đường ấy dẫu đầy máu, nước mắt, lấy đi thanh xuân của biết bao
người nhưng lại là nơi ghi dấu sự khẳng định ý chí Việt Nam được tôi luyện để
không thế lực nào có thể khuất phục, và nơi lời hứa “xây dựng đất nước đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn” được
gieo xuống như một hạt giống chờ ngày trổ bông.
Hôm nay, 60 năm sau, hạt giống ấy đang trổ bông. Dân tộc
ta lại đang bước vào một cuộc hành quân vĩ đại mới: Chặng đường tăng tốc để hiện
thực hóa các mục tiêu chiến lược của Đại hội XIV, với chủ đề “Dưới lá cờ vẻ
vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển
đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ
nguyên vươn mình của dân tộc”.
Đây chính là hiện thân của lời hứa mà Bác Hồ đã gửi gắm vào tương lai từ Lời
kêu gọi năm 1966: “xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” giờ đây được
cụ thể hóa bằng mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước có công nghiệp hiện đại,
thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, sánh vai
cùng các cường quốc năm châu.
Sau khi hòa bình lập lại, non sông liền một dải, cả nước
cùng tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội, mục tiêu này đã chuyển từ sinh tồn
sang thịnh vượng, từ giải phóng sang kiến tạo. Bốn mươi năm đổi mới đã chứng
minh năng lực hiện thực hóa ý chí ấy: năm 2025 quy mô GDP của Việt Nam đạt trên
514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập
nhóm nước thu nhập trung bình cao, những con số mà thế hệ 1966 không dám mơ tới.
Trên trường quốc tế, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện
với năm Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, một thành tựu ngoại
giao chưa từng có. Đó là kết quả của ý chí kiên định và sự cần cù của hơn 100
triệu con người Việt Nam. Song nếu chỉ dừng lại ở đó, chúng ta sẽ phụ lòng những
người đã ngã xuống. Bước vào kỷ nguyên vươn mình, rào cản không còn là bom đạn,
mà là sức ỳ của tư duy cũ kỹ, những điểm nghẽn thể chế và vấn nạn tham nhũng,
lãng phí đang làm tổn hao sinh khí quốc gia. Nền kinh tế đối diện nguy cơ sa
vào “bẫy thu nhập trung bình” nếu chậm chuyển đổi mô hình sang tăng trưởng dựa
trên đổi mới sáng tạo. Để bứt phá, việc nâng cấp hệ sinh thái đổi mới, trọng dụng
nhân tài và làm chủ các mắt xích giá trị cao
trong chuỗi cung ứng toàn cầu là mệnh lệnh sinh tồn.
Hơn lúc nào hết, cuộc chiến cam go nhất hiện nay là vượt
qua chính mình từ bên trong. Định hướng Đại hội XIV khẳng định: nguồn nhân lực
chất lượng cao và sức mạnh văn hóa chính là hai bệ phóng mang tính quyết định.
Đột phá về nhân lực đòi hỏi một cuộc cách mạng giáo dục, chuyển sang hệ sinh
thái học tập suốt đời gắn kết chặt chẽ với kinh tế số. Song song đó, nguy cơ
suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống vẫn đe dọa sự phát triển bền vững.
Nếu để chủ nghĩa cá nhân làm phai nhạt lý tưởng phụng sự Nhân dân, thì khối đại
đoàn kết dân tộc sẽ suy yếu. Chỉ khi chiến thắng sức ỳ nội tại, khơi dậy khát vọng
cống hiến, dân tộc ta mới hội đủ sức mạnh đưa đất nước sánh vai cùng các cường
quốc. Chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
không bao giờ trải đầy hoa hồng. Đó là hành trình đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên
và người dân phải không ngừng tự đổi mới, rèn luyện bản lĩnh, để kiến tạo nên
những giá trị bền vững cho đất nước.
Luận điểm “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là kết
tinh nhất quán của tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên suốt từ Tuyên ngôn Độc lập 1945
đến Lời kêu gọi 1966. Hôm nay, “độc lập, tự do” không chỉ là quyền tồn tại mà
còn là quyền phát triển, thoát khỏi nghèo nàn, tụt hậu. Theo nghĩa đó, khát vọng
của Đại hội XIV chính là sự tiếp nối ở tầm cao mới của lý tưởng ấy.
Nếu năm xưa tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”
đã giúp vượt qua bom đạn, thì hôm nay tinh thần ấy cần chuyển hóa thành quyết
tâm cải cách thể chế, thành bản lĩnh dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ. Đại
hội XIV đã xác định phương châm: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá -
Phát triển”. Thông điệp “Nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” đòi hỏi chuyển hóa
tinh thần năm 1966 thành hành động thực tiễn. Sẽ không thể kiến tạo cơ đồ hùng
cường nếu vẫn tồn tại tâm lý e dè, sợ sai, né tránh trách nhiệm - điều đó chẳng
khác nào những người lính năm xưa chùn bước trước Trường Sơn vì sợ bom đạn.
Từ quyết tâm giữ nước đến khát vọng kiến tạo cơ đồ là
tiến trình tất yếu của lịch sử. Trong Lời kêu gọi 1966, Hồ Chí Minh đã gắn
kháng chiến với tầm nhìn kiến thiết đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Sáu
mươi năm sau, từ dân tộc “xẻ dọc Trường Sơn”, trải qua 40 năm đổi mới, Việt Nam
đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% giai đoạn 2026-2030, tiếp tục hiện thực
hóa khát vọng bằng ý chí phát triển bền bỉ qua nhiều thế hệ.
Cùng một Đảng lãnh đạo, một dân tộc anh hùng bền gan vững
chí đã chiến thắng cỗ máy chiến tranh tàn khốc nhất, nhất định sẽ là động lực
chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu. Như Người khẳng định: “có độc lập, tự do thì sẽ
có tất cả”. Hôm nay, thừa hưởng nền độc lập mà cha anh đã đổ máu giành được,
chúng ta không có quyền lãng phí di sản ấy. Kỷ nguyên vươn mình là lời đáp của
thế hệ hôm nay trước lịch sử, là cách trả ơn những người ngã xuống vì dân tộc,
để cơ đồ Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong ước.
dsdsd