CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
QUA BÀI VIẾT “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG
ThS. Hồ Thị Ngọc Mai - Trưởng khoa Lý luận cơ sở
Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” được Tổng bí
thư Nguyễn Phú Trọng chấp bút nhân Kỷ niệm 131 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ
Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu
Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Trong bài viết Tổng Bí
thư tập trung vào trả lời các vấn đề có liên quan đến chủ nghĩa xã hội. Trong
giới hạn bài viết, tác giả chủ yếu tập trung bàn luận đến thuật ngữ “chủ nghĩa
xã hội”, mô hình chủ nghĩa xã hội và phân tích mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
Trước
khi bàn luận đến hệ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH), chúng ta cần phải hiểu
rõ cách sử dụng thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội”. Sau khi Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, các thế lực chống CNXH đã rêu rao CNXH đã sụp đổ. Điểm
thâm độc ở đây một lúc khẳng định hai vấn đề: Một là CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ,
hai là chủ nghĩa xã hội khoa học nghĩa rộng
- chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung không còn giá trị hiện thực. Mục đích của họ -
phê phán, đả kích vào chủ nghĩa Mác-Lênin hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của
chúng ta, đẩy chúng ta đi chệch hướng quỹ đạo của CNXH. Do đó, chúng ta cần phải
hiểu cho đúng thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội”. Trong bài viết, Tổng Bí thư nêu rõ: “CNXH thường được hiểu với ba tư
cách: CNXH là một học thuyết; CNXH là một phong trào; CNXH là một chế độ...”.
Thứ nhất, “CNXH” hiểu với
tư cách là một học thuyết, chính là tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Tư tưởng XHCN
bắt đầu được hình thành khi xã hội có giai cấp đối kháng, có áp bức, bóc lột,
phát triển qua các giai đoạn đến tư tưởng XHCN không tưởng phê phán, đỉnh cao của
tư tưởng XHCN là chủ nghĩa xã hội khoa học. Quan
điểm xuất phát của tư tưởng XHCN là tư tưởng về
sự xoá bỏ áp bức bóc lột. Tư tưởng đó phản ánh 3 nội dung của cuộc sống hiện thực:i) Ước mơ, nguyện vọng của quần
chúng lao động về 1 chế độ xã hội, trong đó quần chúng lao động làm chủ và có
quyền lực để cùng nhau xây dựng cuộc sống ngày càng bình đẳng, văn minh, hạnh
phúc cho mọi người. ii) Cuộc đấu tranh của quần chúng bị áp bức, bóc lột chống
lại giai cấp thống trị bóc lột. iii) Những con đường và giải pháp để giải phóng
giai cấp, xã hội, con người khỏi chế độ tư hữu, áp bức bóc lột, bất công nghèo
khổ lạc hậu để đi tới xã hội tốt đẹp - một xã hội công bằng, bình đẳng, không
có người áp bức, bóc lột người, một xã hội tạo điều kiện để con người phát
triển toàn diện (Chủ nghĩa xã hội khoa học).
Thứ hai, CNXH hiểu với tư cách là phong trào hiện thực - đó
chính là phong trào XHCN. Phong trào XHCN là những phong trào thực tiễn của nhân
dân lao động đấu tranh chống lại chế độ tư hữu, áp bức bóc lột, bất công và
mọi tội ác để giành lại độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình, công bằng, bình
đẳng...
Thứ ba, CNXH được hiểu với tư cách là chế độ xã hội - đó
chính là xã hội XHCN. Xã hội XHCN là chế độ xã hội mà nhân dân lao động làm chủ
trên thực tế về mọi mặt, dưới sự lãnh đạo của đảng tiên phong của giai cấp
công nhân - Đảng Cộng sản. Xã hội XHCN đã có từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga. Như
vậy, CNXH
được đề đề cập trong bài viết “là CNXH
khoa học dựa trên học thuyết Mác-Lênin trong thời đại ngày nay” và chế độ
xã hội hiện thực.
Chúng
ta cần phải nhận thức đúng đắn vấn đề đó, bởi một lần nữa cần khẳng định “sự sụp đổ CNXH” chỉ sụp đổ mô hình
cụ thể của CNXH hiện thực. Chủ nghĩa Mác-Lênin có giá trị bền vững và tính thời
đại bởi bản thân nó là một học thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự
tiến bộ của xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin đang là kim chỉ nam cho cách mạng
Việt Nam không chỉ trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc mà
còn cả trong công cuộc đổi mới hiện nay. Trên cơ sở kiên định chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta mới thực hiện đổi mới thành công.
Trong
bài viết Tổng bí thư nhấn mạnh nguyên tắc đầu tiên: Độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt
yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mô hình CNXH của nước ta lần
đầu tiên được Đảng ta trình bày trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH (thông qua ở Đại hội VII của Đảng năm 1991). Các đặc trưng cơ bản
của xã hội XHCN mà Nhân dân ta xây dựng được xác định là: “… một xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ. Có nền kinh tế phát triển
cao dựa trên lực lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất chủ yếu. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được
giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động,
có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá
nhân. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”[3].
Việc
xác định 6 đặc trưng của xã hội XHCN ở nước ta là một trong những đột phá về tư
duy lý luận của Đảng. Quan niệm đó cho thấy, Đảng ta đã trung thành với những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp
điều kiện cụ thể của đất nước. Nhìn chung, việc xác định những đặc trưng của
CNXH ở Việt Nam ở Đại hội VII của Đảng ta mới chỉ là bước đầu, chưa thật đầy đủ
và chính xác, tuy nhiên đã phản ánh khá chính xác bản chất của một chế độ xã hội
tốt đẹp mà khi kết thúc thời kỳ quá độ sẽ đạt tới. Các đặc trưng đó cũng đã bao
quát khá đầy đủ các lĩnh vực, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, con người,
lĩnh vực xã hội cũng như quan hệ quốc tế. Sau 20 thực hiện Cương lĩnh năm 1991,
Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển). So với Cương lĩnh năm 1991 (6 đặc
trưng), thì Cương lĩnh năm 2011 của Đảng tiếp tục có những bổ sung, điều chỉnh
về các đặc trưng của xã hội XHCN ở Việt Nam với 8 đặc trưng lớn, “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng
sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều
kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu
nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
Những đặc trưng mới được nêu ra trong Cương lĩnh năm 2011 là sự kiên định nền tảng
tư tưởng của Đảng, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Đặc
trưng thứ nhất chính là hệ mục tiêu tổng quát của mô hình CNXH ở Việt Nam: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hệ mục tiêu được Đảng ta nhận thức,
bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội VI (năm 1986)
đến Đại hội XI (năm 2011). Đại hội VI (năm 1986) của Đảng đánh dấu một bước ngoặt
rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta, với
việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Tại Đại hội VI, Đảng ta đã xác
định đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh. Cương lĩnh năm 1991 đã bổ
sung một mục tiêu rất quan trọng là "công bằng". Đây vừa là một giá
trị xã hội thể hiện bản chất của CNXH, từng bước xây dựng, vừa là định hướng
chính trị - xã hội rất căn bản khi đi vào kinh tế thị trường. "Dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh", nhờ định hướng chỉ đạo của hệ mục
tiêu đó, Đảng và nhân dân ta đã nỗ lực giải quyết thành công cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội trầm trọng vào những năm 80 của thế kỷ XX.
15 năm
đổi mới (1986 - 2001), trên cơ sở thực tiễn dân chủ hóa toàn diện các lĩnh vực
của đời sống - một tư tưởng lớn được đề ra từ Đại hội VI, tạo động lực giải
phóng lực lượng sản xuất và mọi tiềm năng xã hội để phát triển, Đại hội IX của
Đảng (2001) đã nhấn mạnh và bổ sung vào hệ mục tiêu một mục tiêu quan trọng khác
là “dân chủ” thành "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh". Hệ mục tiêu đó không chỉ có tác dụng định hướng chỉ đạo công cuộc đổi
mới nói chung, đặc biệt là đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị mà còn đóng vai
trò động lực thúc đẩy đổi mới các lĩnh vực khác, xây dựng và phát triển văn hóa
và con người, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, xây dựng cơ cấu xã hội
mới phù hợp và tương thích với biến đổi cơ cấu kinh tế khi phát triển mạnh mẽ
kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa và hội nhập quốc tế.
Mục tiêu “Dân
giàu”, cần hiểu trên cả hai mặt: Giàu là giàu cả về kinh tế, vật chất lẫn giàu
về văn hoá, tinh thần. Chế độ xã hội tốt đẹp đó chỉ trở thành hiện thực khi chủ
thể xã hội là Nhân dân giàu có, sung túc về vật chất, là cơ sở để thỏa mãn nhu
cầu tinh thần ngày càng đa dạng, phong phú. Thành tố thứ nhất trong đặc trưng
này là sự bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch khi họ cho rằng,
CNXH “chia đều sự nghèo khổ cho người dân”. Việc xác định trên cũng là sự vận dụng
sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của
CNXH trong bối cảnh mới của thời đại. Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của CNXH và
mục tiêu phấn đấu của Người là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc
cho nhân dân; đó là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Trả lời câu hỏi “Mục đích của CNXH là gì?”, Người nói: “Là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,
trước hết là nhân dân lao động”[5];
“CNXH là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”[6].
Mục
tiêu “Dân giàu” phải gắn với “Nước mạnh”. Không thể tách rời lợi ích của “dân”
và của “nước”. Nước không mạnh, tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng, an
ninh, văn hoá, xã hội không mạnh thì sự giàu có của Nhân dân cũng không có gì đảm
bảo. Vì vậy sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và cộng đồng, của Nhân dân và quốc
gia là sự thống nhất biện chứng không thể tách rời nhau hoặc đối lập nhau. Một
quốc gia mạnh là mạnh cả về kinh tế, chính trị, văn hoá lẫn an ninh, quốc
phòng, đối ngoại. Sức mạnh đây là sức mạnh tổng hợp. Mạnh trong việc xây dựng
kinh tế phát triển, văn hoá phát triển, chính trị ổn định, quốc phòng và an
ninh vững chắc, mạnh trong việc nâng cao vị thế quốc tế của đất nước và dân tộc.
Đến Đại
hội XI (năm 2011), Đảng ta đã phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa các mục
tiêu, vị trí, vai trò của các mục tiêu với tư cách là những thuộc tính giá trị
của phát triển, của đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta. So với Đại hội IX, đưa cụm từ
“dân chủ” lên trước “công bằng” cho phù hợp về lý luận và thực tiễn mối quan hệ
dân chủ và công bằng, đồng thời sự điều chỉnh này về thực chất phản ánh
chính xác hơn bản chất của chế độ ta bởi chế độ đó là chế độ dân chủ. Thực tiễn
cho thấy, nước ta hiện nay, dân chủ và việc thực hiện dân chủ giữ vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng
trong đời sống xã hội. Dân chủ không những là mục tiêu, mà còn là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển nhanh và
bền vững. Khi dân chủ được bảo đảm mới có thể nói đến công bằng, những điều đó
mới thể hiện sự văn minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là
dân, vì dân là chủ”[7].
Vì vậy, xây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ với kinh tế thị trường định
hướng XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
là những điểm cốt yếu, quan trọng của CNXH Việt Nam.
Thực hiện
mục tiêu “Công bằng xã hội” chính là thể
hiện bản chất nhân văn, tốt đẹp của chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và Nhân
dân ta đang xây dựng. Công bằng xã hội tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân và
mọi thành viên của xã hội có thể phát huy tối đa khả năng, sở trường trong tham
gia, đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng như quyền lợi mà họ được hưởng
một cách tương xứng. Nói cách khác, nếu công bằng xã hội được thực hiện đầy đủ
thì lợi ích chính đáng của mỗi người được bảo đảm; điều đó sẽ trở thành động lực
kích thích mọi người tích cực cống hiến cho xã hội một cách tự nguyện, tự giác
nhất, qua đó sẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Đảng ta khẳng định: “Chính
sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ
phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc”.
Công bằng xã hội được thể hiện trong phân phối công bằng kết quả sản xuất (theo
lao động, theo kết quả sản xuất, theo mức đóng góp về vốn và các yếu tố khác
cho sản xuất, kinh doanh); phân phối công bằng lợi ích thông qua phúc lợi xã hội
và đặc biệt hơn cả là tạo nên sự công bằng về cơ hội và điều kiện phát triển
cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng xã hội.
Mục
tiêu “Văn minh”, đó là nói về trình độ phát triển của một xã hội. Văn minh thể
hiện trong việc không ngừng phát triển nền kinh tế theo hướng hiện đại đi liền
với thực hiện tiến bộ và công bằng, xoá bỏ áp bức, bất công về mặt xã hội,
không ngừng phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng nếp
sống và lối sống văn minh.
“Dân
giàu, nước mạnh” phải gắn liền với “dân chủ, công bằng, văn minh”. Vấn đề công
bằng xã hội, vấn đề nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lên
ngang với trình độ chung của cộng đồng quốc tế là một trong những mục tiêu phấn
đấu để Việt Nam có thể sánh vai với “các cường quốc năm châu”, phấn đấu xây dựng
đất nước ta “Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước, khát vọng của Hồ Chí
Minh.
Tóm lại,
chỉ có đi theo con đường XHCN mới có khả năng đảm bảo cho sự bền vững của đất
nước, mới đảm bảo sự phát triển hài hoà của cá nhân và cộng đồng, của công dân
và quốc gia, đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa kinh tế và văn hoá, sự phát triển
về vật chất và lành mạnh về tinh thần, đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa lợi
ích con người và môi trường, mới xoá bỏ sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, xóa
bỏ xã hội người bóc lột người, thực hiện công bằng, dân chủ và tự do thật sự của
con người. Trong bài viết Tổng Bí thư nhấn mạnh đến mong muốn, sự ưu việt của
chế độ XHCN và khẳng định chắc chắn rằng: “Chúng ta cần một xã hội mà
trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà
bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế
đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách
giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết,
tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh
tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và
các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để đảm
bảo môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không
phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy
hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự
thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải
chỉ cho một thiểu số giàu có”. Đây
chính là những mong ước tốt đẹp, những giá trị đích thực của CNXH và cũng chính
là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa
chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi.
Khánh Hòa là một
tỉnh duyên hải Nam Trung bộ Việt Nam, với 09 đơn vị hành
chính cấp huyện, gồm 06 huyện (Vạn
Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm và huyện
Trường Sa),
01 thị xã (Ninh Hòa) và 02
thành phố (Nha Trang và Cam Ranh) với
139 đơn vị hành chính cấp xã gồm 98 xã, 35 phường và 06 thị trấn, có dân tộc
Kinh và 35 dân tộc thiểu số (chiếm 5,84% dân số trên toàn tỉnh). Là tỉnh có vị
trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo
vệ chủ quyền quốc gia về biển, đảo của Tổ quốc, trung tâm kết nối vùng, cửa ngõ
chính ra Biển Đông của vùng Tây Nguyên và khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Trong
nhiệm kỳ 2020 -2025, Khánh Hòa phải “Tập trung phát triển kinh tế nhanh, bền vững,
trên cơ sở đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các
ngành dịch vụ, du lịch, công nghiệp, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tập trung
xây dựng ngành nông nghiệp công nghệ cao, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Thực hiện có hiệu quả các nghị quyết và
chương trình về phát triển kinh tế - xã hội; phát triển giáo dục - đào tạo, y tế,
khoa học - công nghệ. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động
ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo an
sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”. Đây là
một trong những nội dung để Khánh Hòa thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”.