GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÌNH TRẠNG TẢO HÔN
Ở XÃ SƠN TRUNG, HUYỆN KHÁNH SƠN
CN. Nguyễn Văn Minh
Giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật
Xã
Sơn Trung nằm ở phía Đông Bắc của huyện Khánh Sơn, cách trung tâm huyện 3km, phía
Bắc giáp với xã Sơn Hiệp, phía Đông giáp huyện Cam Lâm, phía Nam giáp xã Ba Cụm
Bắc. Tổng diện tích đất tự nhiên là 3.336,5 ha. Tổng số hộ là 801 hộ, 2.794
nhân khẩu với 7 dân tộc cùng chung sống đoàn kết bên nhau, trong đó dân tộc
Raglay là chủ yếu, chiếm 75% dân, dân tộc Kinh chiếm 22% còn lại là các dân tộc
khác.
Mặc dù đã có sự chung tay từ cấp chính quyền, các ban,
ngành, đoàn thể trên địa bàn xã Sơn Trung nhưng tình trạng tảo hôn vẫn còn khá
nhức nhối và diễn biến phức tạp. Tổng số
các cặp tảo hôn trong vòng 4 năm qua là 6 cặp đều là người dân tộc Raglay. Các
em này chủ yếu là bỏ học khi đang học lớp 9, lớp 10….
* Nguyên nhân của
tảo hôn
Từ thực trạng về tình hình tảo hôn trên địa bàn xã Sơn Trung đã cho thấy có
rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc tảo hôn, bao gồm cả nguyên nhân về
cơ sở pháp lý và nhiều nguyên nhân khác có thể kể đến như sau:
a) Những bất cập, hạn chế trong các quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định pháp luật liên quan
Nhiều quy
định áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đối với các dân tộc thiểu số
còn chung chung, thiếu tính khả thi và chậm được hướng dẫn thi hành; công tác
quản lý, thực thi pháp luật về hôn nhân và gia đình còn nhiều bất cập. Tình trạng
lơi lỏng pháp luật, thực thi pháp luật chưa kiên quyết trong quản lý đăng ký kết
hôn ở địa phương còn lỏng lẻo; các chế tài xử phạt vi phạm trong hôn nhân chưa
đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
- Về tuổi
kết hôn:
Thực tiễn
thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp
luật và tập quán về tuổi kết hôn, người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập
quán dẫn tới tình trạng tảo hôn còn tồn tại. Khi được tuyên truyền Luật Hôn
nhân và gia đình, bà con hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, nhưng do
phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia
đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm (15 - 16 tuổi thậm chí từ 14 tuổi).
Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong
tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ
chồng.
- Về áp dụng tập quán trong hôn nhân và
gia đình:
Khoản 1 Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình quy định trách
nhiệm của Nhà nước và xã hội: “Nhà nước có chính
sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập
hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia
đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng
cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận
động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát
huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc.”,
và tại điểm a, b, c Khoản 1, Điều 5 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân
và Gia đình qui định về tuyên truyền, vận động nhân dân áp dụng tập quán: “Tạo
điều kiện để người dân thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia
đình; phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc,
xóa bỏ tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình; tăng cường tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về hôn nhân và gia đình, vận động người dân phát huy truyền
thống, tập quán tốt đẹp và xóa bỏ tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình. Tuy
nhiên, qua tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình cho thấy những quy định
này tính khả thi còn thấp, vì chỉ mới thể hiện được thái độ tôn trọng của nhà
nước đối với phong tục, tập quán mà chưa thực sự tạo căn cứ pháp lý rõ ràng và
đầy đủ để các cơ quan có liên quan áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ
việc về hôn nhân và gia đình.
- Về điều
kiện để áp dụng tập quán:
Mặc dù tại
Khoản 2, Điều 5 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định
cụ thể về tập quán lạc hậu. Tuy nhiên, việc áp dụng thực tiễn tại địa phương
còn rất khó khăn bởi một số lý do như: nếu cơ quan quản lý nhà nước ở địa
phương xử lý nghiêm các trường hợp tảo hôn, cưỡng ép kết hôn...thì khả năng dẫn
đến việc người vi phạm tự tử bằng cách thắt cổ hoặc uống thuốc sâu, thuốc diệt
cỏ là rất cao.
Nhiều trường
hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn. Ví dụ: tại
thôn Ma O có hai trường hợp tảo hôn là các cặp: em Cao Văn Hà, 18 tuổi và em
Cao Thị Bích Trinh 16 tuổi. Mặc dù UBND xã, các ban ngành đoàn thể đã xuống tận
nhà tuyên truyền vận động cũng như làm bản cam kết không tảo hôn xong gia đình
vẫn để cho hai em qua lại nói là mấy đứa chỉ là bạn bè. Khi sự việc đã rồi thì
tổ chức cho các cháu; khi cán bộ xã đến hỏi thì gia đình nói là làm lễ phong tục
của gia đình chứ không phải cho hai cháu. Nhiều trường hợp tại địa phương trước
đây sau khi cán bộ dân số, cũng như ban ngành đoàn thể xuống vận động cho các
cháu cũng như gia đình thì các cháu nói với gia đình bỏ lên rẫy ở, nhiều trường
hợp dọa sẽ tự tử.... vì vậy cũng rất khó khăn cho việc tuyên truyền vận động.
- Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành
vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn:
Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một
chồng chưa được thực hiện nghiêm túc và thiếu tính khả thi. Do trình độ nhận thức
và hiểu biết pháp luật của nhiều bà con người dân tộc thiểu số còn hạn chế nên
việc tự nguyện, tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia
đình còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc xem xét, xử lý lý hành chính đối
với các trường hợp vi phạm là người dân tộc thiểu số lại càng khó khăn và không
phải dễ thực hiện đối với những người có thẩm quyền xử lý vi phạm. Nếu xử phạt ở
mức thấp nhất là cảnh cáo thì họ cũng không chấp hành bởi tính răn đe không
cao, còn nếu áp dụng hình thức xử phạt bằng tiền có tính răn đe cao hơn thì phần
lớn những người dân đó đều là dân nghèo không có tiền để nộp phạt và trong trường
hợp đó, khả năng thực hiện các biện pháp cưỡng chế nộp phạt của chính quyền
địa phương là điều không thể thực hiện được. Do không có hình thức chế tài
nào khác nên các cặp vợ chồng nghèo vẫn tự do kết hôn khi chưa đủ tuổi mà
không lo bị xử phạt. Cũng có không ít cặp tảo hôn sẵn sàng lên xã nộp phạt.
Trong nhận thức, họ coi việc nộp phạt là đã tuân thủ pháp luật và sau khi
nộp phạt thì họ đương nhiên được xã công nhận là vợ chồng theo pháp luật.
Có nhiều trường hợp cán bộ thực thi nhiệm vụ phát hiện ra những vi phạm của
công dân nhưng vì nể nang là chỗ thân quen, người làng, người xã nên cố tình
làm ngơ.
b) Công tác tuyên
truyền còn bất cập, hạn chế và hiệu quả chưa cao
Với địa
bàn có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí còn thấp,
nhiều hủ tục lạc hậu trong việc kết hôn, ly hôn, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng
con hoặc bất bình đẳng nam nữ trong quan hệ hôn nhân… vẫn tồn tại. Mặc dù Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014 và các quy định pháp luật áp dụng đối với đồng bào
dân tộc thiểu số đã có hiệu lực thi hành; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo
dục pháp luật về hôn nhân và gia đình đã được chính quyền địa phương, các tổ chức
xã hội, các cơ quan bảo vệ pháp luật, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện thường xuyên
thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng một bộ phận người dân, nhất là
người đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức được. Phần lớn trường hợp tảo
hôn đều rơi vào các hộ nghèo, đối tượng vị thành niên, thanh niên thất học, hiểu
biết pháp luật hạn chế và việc tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng
còn khó khăn.
c) Sự
can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống còn chưa
mạnh mẽ, thiếu kiên quyết
Việc loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu nói chung, loại bỏ tục tảo
hôn nói riêng ra khỏi đời sống xã hội đạt được hiệu quả không nhỏ nếu có sự
can thiệp một cách mạnh mẽ, kiên quyết từ phía cơ quan địa phương. Tuy
nhiên, trên thực tế tảo hôn vẫn còn tiếp diễn và một phần lỗi không nhỏ
thuộc về chính quyền địa phương.
d) Trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân còn
hạn chế
Tình trạng
học sinh bỏ học vẫn tái diễn mà nguyên
nhân chính là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ chưa nhận thức được
tầm quan trọng của giáo dục, không khuyến khích con em họ đến trường mà muốn
con cái ở nhà làm việc giúp đỡ gia đình. Thực tế cho thấy, đối với đồng bào
dân tộc Raglay trên địa bàn xã do trình độ dân trí thấp, nhận thức và ý thức
pháp luật còn nhiều hạn chế đã tác động làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn
nhân cận huyết thống.
đ) Ảnh hưởng của những quan niệm, thành kiến, phong tục tập quán lạc hậu
Địa bàn xã với hơn 75% là người đồng bào dân tộc Raglay. Phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc
Raglay trên địa bàn xã nói riêng đã tồn tại và ăn sâu trong nhận thức của người
dân từ nhiều đời nay và ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ trong đời sống, sinh hoạt của
họ. Đối với đồng bào Raglay, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục,
tập quán; việc lấy vợ, lấy chồng mà chỉ cần sự đồng
ý của những người đứng đầu trong
làng hoặc của cha mẹ hai bên nam nữ và sự chứng kiến của gia đình, họ hàng,
làng xóm. Không chỉ vậy, xuất phát từ những
khó khăn trong cuộc sống cùng với thói quen ở vùng núi, nhà nào cũng có tâm lý muốn sớm có con đàn cháu đống, có người
nối dõi, kết hôn sớm để gia đình có thêm lao động cho gia đình, có người làm
nương rẫy. Nhà nào có con gái thì muốn gả sớm để bớt miệng ăn, nhà nào
có con trai thì muốn cưới vợ sớm để
lo toan cuộc sống... đã kéo theo nhiều hệ lụy, mà điển hình nhất là nạn tảo hôn và là nguyên nhân làm gia tăng
tình trạng tảo hôn, vợ chồng không đăng ký kết hôn trong vùng đồng bào Raglay
trên địa bàn xã.
e) Tác động, ảnh hưởng của những mặt
trái của cơ chế thị trường
Trong nền
kinh tế thị trường, con người dần biến đổi để thích nghi được với những điều
kiện mới. Họ trở nên năng động, sáng tạo, linh hoạt và độc lập hơn trong
cách nghĩ cách làm. Quan điểm đời sống của họ cũng trở nên cởi mở hơn, đơn
giản hơn, không bị gò bó bởi quan niệm thành kiến đạo đức xưa. Vì vậy, con
người dễ dàng thiết lập các mối quan hệ với nhau. Một trong những hệ lụy
đó là việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ trở nên hết sức bình thường
và làm gia tăng tỉ lệ mang thai sớm. Đây cũng là nguyên nhân khách quan làm gia
tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở trên địa bàn xã.
* Vấn đề tảo hôn để
hại hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Để khắc phục tình trạng tảo hôn trên địa xã
Sơn Trung, cần làm tốt một số giải pháp như sau:
Một là, tiếp tục phát huy vai trò của cả hệ thống
chính trị trong việc tổ chức thực hiện, tổ chức sơ kết, tổng kết về việc tổ chức
Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới. Khen thưởng những gia đình văn
hóa tiêu biểu để nêu gương.
Hai là, tiếp tục triển
khai thực hiện tốt các văn bản của Đảng, Nhà nước và các cấp và quan tâm đầu tư
cho sự nghiệp trồng người. Góp phần xây dựng quê hương đất nước, là động lực thúc
đẩy trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Ba là, cần có sự chỉ đạo liên tục và thường
xuyên của các cấp ủy Đảng, và chính quyền, các ban ngành, đoàn thể. Để phát huy
sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong công tác này. Thực tế cho thấy nơi nào
cấp ủy chi bộ quan tâm, Ban tự quản và các đoàn thể hoạt động mạnh thì nơi đó
phong trào phát triển một cách toàn diện và đạt kết quả cao.
Bốn là, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của
các cán bộ văn hóa thông tin, cán bộ tư pháp, cán bộ phụ trách dân số - kế hoạch
hóa gia đình và công tác viên dân số... Chủ động lồng ghép xây dựng gia đình
văn hoá, thôn, buôn văn hoá với chương trình thực hiện kế hoạch hóa gia đình,
chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, gia đình, thôn, buôn văn hoá sức khoẻ, phòng chống
các tệ nạn xã hội.
Năm là, nâng cao hơn nữa công tác tuyên truyền
về vấn đề tảo hôn cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã, với trình độ
dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp thì việc sân khấu hóa các nội
dung tuyên truyền vì đây là cách nhanh nhất để người dân nắm được vấn đề cần
truyền đạt.
Sáu là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Kế hoạch số
128/KH-UBND ngày 06/5/2016 của UBND xã Sơn Trung về thực hiện Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng
bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025.
Bảy là, cần có sự chỉ đạo sát sao, quan tâm
hơn nữa của chính quyền trong việc phổ cập kiến thức về hôn nhân và gia đình
cũng như giám sát việc thực hiện công tác truyên truyền đó. Đưa mục tiêu về hôn
nhân và gia đình vào chương trình, kế hoạch hoạt động của chính quyền và các ban,
ngành, đoàn thể ở địa phương hàng năm.
Tám là, quan tâm tới công
tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ, nhất là đội ngũ cán bộ dân số gia đình và
trẻ em. Với các chức danh lãnh đạo cần lựa chọn những người có phẩm chất đạo đức
tốt, có bản lĩnh vững vàng để tránh trường hợp họ vì lợi ích cá nhân mà tiếp tay
cho nạn tảo hôn diễn ra tại địa phương mình.
Chín là, phối hợp chặt chẽ
giữa các địa phương, giữa các cấp với nhau trong công cuộc đẩy lùi hủ tục, thực
hiện nếp sống văn minh, lành mạnh, tiến bộ. Ngoài ra, chính quyền địa phương cần
có các chính sách kiên quyết nhưng hợp lý nhằm xử lý và loại bỏ tình trạng tảo
hôn trong đời sống. Cụ thể, khi có hành vi vi phạm điều kiện kết hôn, tòa án
nhân dân có thể xử hủy việc kết hôn trái pháp luật.
Mười là, chính quyền và các cơ quan chuyên môn cần
tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, vận động cho đội ngũ cán bộ
dân số cơ sở. Các ban, ngành, đoàn thể phải phát huy hơn nữa vai trò của mình
trong việc tuyên truyền chính sách dân số nói chung và phòng tránh tảo hôn nói
riêng. Thực hiện công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục phải mở rộng theo hướng
xã hội hoá. Huy động tối đa các tổ chức có dân tham gia tuyên truyền, vận động
các chính sách dân số gia đình và trẻ em qua nhiều hình thức như truyền thông đại
chúng, tuyên truyền trực tiếp qua các hội nghị của các ngành, đoàn thể các cấp,
đồng thời tăng cường hoạt động của đội ngũ tuyên truyền viên ở cơ sở.
Tóm lại, vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ đơn
thuần là nhìn thấy hiện trạng và nguyên nhân của vấn đề tảo hôn mà cần phải thực
hiện được những giải pháp hữu hiệu hơn nữa để
hạn chế, đẩy lùi, tiến tới xóa bỏ tình trạng tảo hôn. Từ đó tạo ra những tiền đề
thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội của xã Sơn Trung; thực hiện mục tiêu
xây dựng đời sống văn hoá mới, xây dựng gia đình mới hiện đại. Nhưng để làm được
điều đó cần phải có sự quan tâm của toàn xã hội, của Đảng và nhà nước, của các
cấp các ngành và nhân dân./.