CHÚC MỪNG 101 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 – 21/6/2026) 

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 22/04/2015]

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN

TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ

 

Nghiên cứu pháp luật, đóng góp ý kiến xây dựng và hoàn thiện pháp luật không chỉ là trách nhiệm của các nhà nghiên cứu, mà còn là trách nhiệm của công dân. Trong giai đoạn Nhà nước đang tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo Bộ luật dân sự 2015 (gọi tắt là Dự thảo), với tư cách là một nhà nghiên cứu, trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đóng góp ý kiến về một trong các vấn đề được Ban Dự thảo đề xuất, đó là vấn đề: Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự.

Vấn đề trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự là vấn đề còn nhiều ý kiến tranh luận. Trong đó, có ý kiến thống nhất với Dự thảo, rằng “Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”. Nhưng cũng có quan điểm phản đối với luận điểm đưa ra là Tòa án không có thẩm quyền giải thích pháp luật; thẩm phán và hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật mà đưa ra phán quyết cho trường hợp pháp luật chưa quy định là không phù hợp với Hiến pháp. Cá nhân tôi đồng quan điểm cho rằng trách nhiệm bảo vệ quyền dân sự thuộc cơ quan có thẩm quyền, khi pháp luật đã thừa nhận quan hệ dân sự hợp pháp thì phải có cơ chế bảo vệ nó, Tòa án không được từ chối vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Nếu Tòa án lấy lý do như vậy là vì Tòa án không biết lựa chọn điều luật, chứ pháp luật đã có quy định. Vì vậy, tôi xin đóng góp một số ý kiến tranh luận.

I. BẢN CHẤT CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

Quan hệ dân sự về bản chất là những quan hệ xã hội có nguồn gốc từ tập quán, đó là các quan hệ không cứ phải do nhà nước đặt ra mới có, hoàn toàn khác với quan hệ hành chính hay hình sự. Nhiều quan hệ dân sự đã tồn tại không phụ thuộc vào nhà nước.

Pháp luật là sự dự liệu của các nhà làm luật, những dự liệu khớp với các nhu cầu xã hội hay chưa hoàn toàn khớp là tùy vào khả năng dự liệu. Sẽ thật là tuyệt vời khi toàn bộ mọi dự liệu đều trùng khít với sự phát triển của xã hội. Song, sự dự liệu đó chưa hoàn toàn trùng khít, các điều luật chưa hoàn toàn lường trước hết mọi tình huống của cuộc sống là điều khó tránh khỏi khi đời sống xã hội vận động không ngừng còn pháp luật thì luôn phải dự liệu, dự đoán và chạy theo. Do đó, khi xây dựng pháp luật, các điều luật trong Dự thảo Bộ luật dân sự đã đưa ra các nguyên tắc và dự liệu cả tình huống tương tự. Như thế là chặt chẽ và hợp lý.

Các quan hệ dân sự là quan hệ mang tính tự do tự nguyện, điều này đã được ghi nhận trong pháp luật hiện hành và cả trong bản dự thảo về nguyên tắc tự do tự nguyện cam kết thỏa thuận dân sự (Điều 4 Dự thảo). Theo đó, bất kỳ một giao dịch dân sự nào, dù pháp luật đã đưa ra khuôn mẫu hành vi hay do chủ thể đưa ra các cách xử sự cụ thể không có trong khuôn mẫu, chỉ cần giao dịch đó không vi phạm điều cấm, giao dịch đó đảm bảo tôn trọng lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác thì giao dịch đó vẫn là giao dịch dân sự hợp pháp, đều được thừa nhận là hợp pháp, đáng được tôn trọng và đáng được bảo vệ. Tính hợp pháp trong quan hệ dân sự không phải chỉ ở dạng “phải thực hiện giống khuôn mẫu pháp luật đưa ra” mà chủ yếu là ở dạng “không vi phạm điều cấm”. Do đó, không thể vì lý do chưa có khuôn mẫu hành vi mà cho rằng các giao dịch dân sự ngoài các dạng thức khuôn mẫu thì không được pháp luật công nhận, hay là giao dịch dân sự đó không hợp pháp, để rồi Nhà nước có quyền từ chối bảo vệ các quyền dân sự phát sinh trong quan hệ.

II. NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TẬP QUÁN VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TƯƠNG TỰ

Bộ luật Dân sự hiện hành (Điều 3) và Dự thảo (Điều 11, Điều 12) đều quy định nguyên tắc áp dụng tập quán và nguyên tắc áp dụng pháp luật tương tự.

Điều 11 Dự thảo. Áp dụng tập quán

1. Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự, được thừa nhận và áp dụng một cách rộng rãi, lặp đi lặp lại một thời gian dài trong một lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc một lĩnh vực hoạt động cụ thể mà không được quy định trong pháp luật.

2. Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán. Tập quán không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại mục 1 của Chương này, không vi phạm điều cấm của luật và những quy định bắt buộc trong hợp đồng.

Điều 12 Dự thảo.Áp dụng tương tự pháp luật

1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định trực tiếp và không có tập quán thì áp dụng quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự (tương tự pháp luật) để giải quyết.

2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại mục 1 của Chương này và lẽ công bằng để giải quyết.

Chính 2 nguyên tắc này là cơ sở pháp lý rất mạnh mẽ và thuyết phục để làm khuôn mẫu hành vi các giao dịch dân sự mà pháp luật chưa dự liệu đến, đồng thời cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp hay giải quyết các yêu cầu bảo vệ quyền dân sự trong các trường hợp giao dịch dân sự mà pháp luật chưa có quy định cụ thể.

Tôi cho rằng quan điểm cho rằng Tòa án được quyền từ chối giải quyết các vụ, việc dân sự vì lý do chưa có luật để áp dụng là phủ định nguyên tắc áp dụng tập quán và nguyên tắc áp dụng pháp luật tương tự, tự mâu thuẫn.

III. NGUYÊN TẮC BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ

Với những lập luận trên đây, có thể khẳng định rằng pháp luật dân sự hiện hành và Dự thảo đều cùng thừa nhận các giao dịch dân sự tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận nghĩa là có thể có giao dịch dân sự không có trong khuôn mẫu. Những giao dịch ấy chỉ cần không vi phạm điều cấm; tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng và lợi ích của người khác thì đều được công nhận là giao dịch dân sự hợp pháp.

Điều 2 Dự thảo cũng như Điều 9 Bộ luật Dân sự (BLDS) hiện hành đều tuyên bố nội dung gần như nhau, theo đó tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật công nhận đều được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện.

Như vậy, cần phải có cơ chế để đảm bảo các quyền dân sự trong các giao dịch dân sự không có trong khuôn mẫu (các trường hợp pháp luật chưa quy định) vì về nguyên tắc những quyền ấy vẫn hợp pháp và vì thế phải được Nhà nước bảo vệ.

Để bảo vệ quyền dân sự của mình, có thể các chủ thể có nhiều cách khác nhau, trong đó, có một cách rất hiệu quả và có tính đảm bảo thực hiện rất cao là yêu cầu cơ quan Tòa án bảo vệ quyền của mình khi bị xâm hại hoặc có tranh chấp. Nếu Tòa án từ chối giải quyết thì có thể coi như đồng nghĩa với việc Nhà nước từ chối bảo vệ các quyền dân sự hợp pháp. Như thế các điều luật sẽ đang mâu thuẫn lẫn nhau.

Nay, Điều 19 Dự thảo đã giải quyết được mâu thuẫn này. Khi đã có quy định về áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự thì thẩm phán và hội thẩm phải được áp dụng, không áp dụng là không hợp pháp. Việc xét xử là một quá trình áp dụng linh hoạt các điều luật theo đúng tinh thần nội dung điều luật, chứ không phải nhất nhất mọi điều luật đều cần phải có giải thích pháp luật. Việc giải quyết các vụ, việc theo yêu cầu của thực tiễn cuộc sống là trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền đối với các tổ chức, công dân.

Khi các quan hệ dân sự có vấn đề, có tranh chấp, người dân tìm đến cơ quan có thẩm quyền nhờ giải quyết là tìm đến công lý, tìm đến lẽ công bằng, nếu cơ quan nhà nước không giải quyết thì họ sẽ không biết tìm đến ai, họ sẽ mất định hướng trong xử sự. Quyền dân sự cần được bảo vệ. Khi  cơ quan xét xử tìm cách giải quyết các khúc mắc, bảo vệ các quyền dân sự hợp pháp cho các chủ thể trong trường hợp áp dụng tập quán hoặc áp dụng pháp luật tương tự thì chính cơ quan xét xử sẽ có dữ liệu để tổng kết thực tiễn, tạo tiền đề cho công tác hoàn thiện pháp luật, làm cho pháp luật gắn với nhu cầu cuộc sống.

Trên đây là một vài ý kiến của cá nhân góp ý xây dựng luật, rất mong nó góp thêm lập luận thuyết phục để bảo vệ quan điểm quy định về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ các quyền dân sự./.

 

                 ThS. Lê Thị Kim Chung(Phòng NCKH-TT-TL).