Ra sức xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
(Bài phát
biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai
thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 24/11/2021)
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Thưa các vị đại biểu, Thưa toàn thể các đồng chí,
Hôm
nay, tại Thủ đô Hà Nội - "nơi lắng hồn núi sông ngàn năm"; "nơi
hội tụ, kết tinh và tỏa sáng nền văn hóa, văn minh của dân tộc"; "Thủ
đô của lương tri và phẩm giá con người"; "Thành phố vì hòa
bình"; "hào hoa và thanh lịch"; "văn hiến và anh
hùng";... chúng ta long trọng tổ chức Hội nghị văn hóa toàn quốc để
triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về lĩnh
vực văn hóa.
Đây
là một việc làm rất có ý nghĩa về nhiều phương diện; tôi rất vui mừng và hào hứng
được đến dự Hội nghị này. Sở dĩ tôi nói như vậy là vì 3 lý do:
-
Vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa: văn hóa là hồn cốt của dân tộc,
nói lên bản sắc của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn,...
-
75 năm nay (từ ngày 24/11/1946), hôm nay mới lại có Hội nghị toàn quốc về văn
hóa với quy mô lớn thế này.
-
Họp sau Đại hội Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, Khối Nội chính; và sắp tới
sẽ còn có Hội nghị về đối ngoại và về xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần
tôi vẫn nói: "Tiền hô hậu ủng," "Nhất hô bá ứng,"
"Trên dưới đồng lòng" và "Dọc ngang thông suốt."
Trước
hết, tôi xin gửi đến các vị đại biểu, các vị khách quý cùng toàn thể các đồng
chí lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.
Thưa các đồng chí,
Chúng
ta đều đã biết, văn hóa là một phạm trù rất rộng, có thể được hiểu dưới
nhiều góc độ khác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau, rất phong phú, đa dạng.
Đến nay, trên thế giới có tới gần 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Nhưng
chung quy có thể hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng: thì
văn hóa là trình độ phát triển về tinh thần và vật chất của nhân loại trong mỗi
giai đoạn lịch sử nhất định (thời kỳ đồ đá, thời kỳ đồ đồng... Văn
hóa Đông Sơn, văn hóa lúa nước...). Nghĩa hẹp: thì văn hóa là những
hoạt động tinh thần của một xã hội, gồm có những lĩnh vực: giáo dục, khoa học,
văn học, nghệ thuật, đạo đức (lối sống, cách cư xử, ứng xử giữa người với người,...).
Văn
hóa cũng bao gồm cả văn hóa vật thể (các di tích lịch sử, các công
trình văn hóa, di sản văn hóa, những sản phẩm văn hóa: Kim tự tháp, đình, chùa,
miếu thờ,...) và phi vật thể (ca dao, dân ca, hò vè, lễ hội; các phong tục, tập
quán của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc, mỗi địa phương...). Văn
hóa chúng ta bàn ở đây chủ yếu là theo nghĩa hẹp.
Nhưng
dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì khi đã nói đến văn hóa là nói đến những
gì là tinh hoa, tinh túy nhất, được chưng cất, kết tinh, hun đúc thành những
giá trị tốt đẹp, cao thượng, đặc sắc nhất, rất nhân văn, nhân ái, nhân nghĩa,
nhân tình, tiến bộ (một con người có văn hóa, một gia đình có văn hóa, một dân tộc có
văn hóa; lối sống văn hóa, nếp sống văn hóa, cách ứng xử có văn hóa,...).
Còn
những gì xấu xa, việc làm ti tiện, đớn hèn, những hành động phi pháp, bỉ ổi...
là vô văn hóa, phi văn hóa, phản văn hóa. Hạnh phúc của con người không phải chỉ
ở chỗ nhiều tiền, lắm của, ăn ngon, mặc đẹp, mà còn ở sự phong phú về tâm hồn,
được sống giữa tình thương và lòng nhân ái, lẽ phải và công bằng.
Việt
Nam là một đất nước có hơn 4 nghìn năm lịch sử, trải qua không biết bao nhiêu sự
biến đổi, thăng trầm do thiên nhiên và con người gây ra, đã tích lũy, tạo ra và
phát huy được nhiều giá trị, bản sắc văn hóa riêng của dân tộc, làm nên hồn
cốt của dân tộc; đồng thời tiếp thu và góp phần đóng góp vào nền văn
hóa chung của nhân loại.
Nhận
thức sâu sắc được vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hóa trong sự
phát triển của đất nước ta, dân tộc ta, cho nên ngay từ trong Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phải phát triển
văn hóa của dân tộc; và năm 1943, khi nước nhà còn chưa giành được độc lập, Đảng
ta đã đề ra "Đề cương văn hóa Việt Nam," trong đó chỉ rõ "Mặt
trận văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa),"
và chủ trương phát triển văn hóa theo ba hướng: dân tộc - Khoa học - Đại
chúng.
Những
quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Văn kiện quan trọng này đã tạo ra
một luồng sinh khí mới để tập hợp đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, tập hợp nhân
dân phát huy vai trò của văn hóa, thống nhất về nhận thức, tư tưởng và tổ chức,
khơi dậy khát vọng của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, chuẩn
bị tinh thần và lực lượng cho cách mạng
Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước
công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, năm 1945.
Trong
cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược, với khẩu hiệu "văn
hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa," "xây dựng đời sống mới,"
văn hóa Việt Nam đã thực sự trở thành động lực tinh thần để huy động tất cả mọi
nguồn lực cho cuộc kháng chiến, góp phần quan trọng làm nên chiến thắng Điện
Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," năm 1954.
Sau
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, cả nước ta đã tập trung vào thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giành thống nhất nước nhà, Đảng
ta đã thường xuyên quan tâm đến công tác văn hóa, động viên và cổ vũ đội ngũ
văn nghệ sỹ và những lực lượng làm công tác văn hóa phát huy vai trò
của mình trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa mới, con người mới.
Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960 đã xác định mục tiêu của
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về văn hóa và áp dụng những nhận thức đó vào việc
xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, thiết thực, phục vụ sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa, nâng cao không ngừng đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân.
Đảng
ta đã nhấn mạnh đến công tác phát triển nền văn nghệ, báo chí, xuất bản, truyền
thanh, điện ảnh, thư viện, bảo tồn bảo tàng, nâng cao tính tư tưởng, tính chiến
đấu, tính quần chúng của các công việc đó.
Đồng
thời, Đảng ta cũng đã đặc biệt quan tâm đến công tác văn hóa quần chúng,
xây dựng các hoạt động và các thiết chế văn hóa ở cơ sở, nâng cao dân trí, xây
dựng đời sống văn hóa mới, cải tạo các thói quen và nếp sống cũ, xây dựng thói
quen và lối sống mới.
Sự
lãnh đạo của Đảng trong suốt thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1975 đã góp phần phát
huy vai trò của văn hóa Việt Nam thực hiện nhiệm vụ vừa kiến quốc, vừa kháng
chiến, huy động được các binh chủng, các lực lượng làm công tác văn hóa của
toàn dân tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành Đại thắng mùa
xuân năm 1975, thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối.
Lời
kêu gọi thiết tha, sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thà hy sinh tất cả
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ! Không có gì
quý hơn độc lập, tự do!"; "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là
một! Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!"
đã trở thành lẽ sống thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam, là hồn cốt thiêng
liêng của văn hóa Việt Nam!; "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh!";
thậm chí "Còn cái lai quần cũng đánh!" (chị Út Tịch). Đồng thời:
"Đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa!"
Đại
hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đánh giá rất cao về những đóng góp của
Ngành văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ
cứu nước và khẳng định: Nền văn hóa, văn nghệ nước ta xứng đáng đứng vào
"Vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến
trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay."
Chủ
tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta chẳng những là Lãnh tụ thiên tài, Người
thầy vĩ đại của Cách mạng Việt Nam, Người chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế, mà còn là Nhà văn hóa kiệt xuất, được thế giới phong
tặng danh hiệu vẻ vang "Danh nhân văn hóa thế giới"! (cùng với
Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Chu Văn An và mới hôm qua có thêm: Nguyễn Đình Chiểu, Hồ
Xuân Hương).
Từ
năm 1975 đến năm 1985 là giai đoạn bản lề chuyển từ chiến tranh sang hòa bình,
đất nước ta phải khắc phục hàng loạt những hậu quả của chiến tranh, khôi phục lại
các cơ sở kinh tế, văn hóa, giáo dục bị tàn phá; thống nhất về thể chế và thiết
chế văn hóa trên phạm vi cả nước.
Đồng
bào cả nước đã đồng cam, cộng khổ, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng
để vượt qua những thách thức do cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình hình
phức tạp của quốc tế lúc đó gây ra.
Bước
vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã
tiến hành đổi mới đồng bộ và toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ
kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại.
Riêng
về lĩnh vực văn hóa, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, quyết định, chỉ thị rất
quan trọng để tập trung xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới.
Trên cơ sở tổng kết những thành tựu đã đạt được về lĩnh vực văn hóa những
năm đầu thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII
và đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Đây
là những nghị quyết có ý nghĩa chiến lược về phát triển văn hóa Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng ta đã chọn
8 lĩnh vực để tập trung chỉ đạo, trong đó quan trọng nhất là vấn đề xây dựng
con người với trọng tâm là xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm
2011), Đảng ta đã xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ
nghĩa mà chúng ta xây dựng.
Cương
lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng,
thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt
chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững
chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.
Tiếp
đó là Nghị quyết số 33 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa
XI năm 2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững đất nước. Trong Nghị quyết này, Đảng ta tiếp tục khẳng
định những quan điểm, nhiệm vụ mà Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã nêu; đồng
thời bổ sung, nhấn mạnh một số vấn đề mới, khẳng định mục tiêu, vai trò, nhiệm
vụ của văn hóa.
Về
mục tiêu chung, Đảng ta chỉ rõ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam phát triển toàn
diện, hướng đến chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, tính nhân văn, dân
chủ và khoa học; làm cho văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần
vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền
vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng và văn minh.
Đảng
ta nhấn mạnh, văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội;
làm rõ đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là
dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; nhấn mạnh trọng tâm của việc xây dựng
văn hóa là xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp…
Trong
Nghị quyết này, Đảng ta đã xác định một số nhiệm vụ mới là xây dựng văn hóa trong
chính trị và kinh tế; phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và hoàn thiện thị
trường văn hóa. Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Kết luận số 76-KL/TW về tiếp
tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững đất nước.
Nhắc
lại một cách vắn tắt như vậy để muốn khẳng định rằng: Từ ngày thành lập đến
nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng vai trò của văn hóa và hết sức quan tâm đến
công tác xây dựng văn hóa trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và
xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhận thức
của Đảng về văn hóa ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn.
Đảng
ta xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức
mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước; xác định phát triển
văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định
hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện tính
ưu việt của chế độ ta.
Nói
sâu sắc, ngắn gọn như Bác Hồ là: "văn hóa soi đường cho quốc dân đi"!
Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
với nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần
của xã hội; kế thừa những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đồng thời
tiếp thu có chọn lọc những thành tựu, tinh hoa văn hóa của thế giới, phấn đấu
xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con
người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng
cao.
Đồng
thời, Đảng ta khẳng định: Con người là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến
lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự nghiệp đổi mới; phát triển giáo dục-đào tạo và khoa học-công
nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống
còn, là tiêu chí của phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ
làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là một
tiêu chí của tiến bộ, văn minh.
Đảng
ta khẳng định: Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người
có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; chú trọng mối quan hệ giữa
văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong
hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo
đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đảng ta cũng đã xác
định, chủ thể xây dựng và phát triển văn hóa là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ đóng vai trò
quan trọng; nhấn mạnh đến phát huy tối đa các nguồn lực từ Nhà nước và xã hội,
từ trong nước và nước ngoài để phát triển văn hóa.
Như
vậy, nhận thức của Đảng ta về xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi
mới đã từng bước được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện, toàn diện và
sâu sắc hơn. Đây là tiền đề rất cơ bản để chúng ta quán triệt và tổ chức triển
khai thực hiện trong thực tế.
Thưa các vị đại biểu, thưa các
đồng chí,
Nhìn
lại những thành tựu trên lĩnh vực xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là trong 35 năm đổi mới gần đây, chúng ta có quyền
tự hào về những đóng góp to lớn của nền văn hóa vào sự nghiệp cứu quốc và kiến
quốc. Những thành tựu nổi bật cần khẳng định là nhận thức về văn hóa ngày càng
toàn diện và sâu sắc hơn trên các lĩnh vực, các loại hình; các sản phẩm văn hóa
ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu mới, nhiều mặt của xã hội.
Nhiều
giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa của dân tộc được kế thừa, bảo tồn
và phát triển. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng
và phát huy hiệu quả, tích cực. Công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa có bước
khởi sắc. Hoạt động giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế có bước phát triển mới.
Xây dựng con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội.
Việc
đấu tranh, phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chống các quan điểm,
hành vi sai trái gây tác hại đến văn hóa, lối sống được chú trọng. Nhiều tấm
gương sáng trong phong trào thi đua yêu nước, phong trào "Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa" đã được biểu dương, lan toả vào đời sống xã hội,
củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nói riêng,
xây dựng và phát triển đất nước nói chung.
Nhân
dịp này, tôi xin được thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhiệt liệt hoan
nghênh, chúc mừng, biểu dương và cảm ơn những đóng góp to lớn của toàn Đảng,
toàn dân, toàn thể cán bộ, đảng viên và đặc biệt là của đội ngũ trí thức, văn
nghệ sỹ, của các lực lượng tham gia trên mặt trận văn hóa trong thời gian vừa
qua.
Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào
những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa, tìm ra nguyên
nhân và giải pháp để khắc phục.
Hạn
chế, yếu kém nổi bật được nhắc lại nhiều lần lâu nay là văn hóa chưa được
các cấp, các ngành nhận thức một cách sâu sắc và chưa được quan tâm một cách đầy
đủ tương xứng với kinh tế và chính trị; chưa thật sự trở thành nguồn lực, động
lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước.
Vai
trò của văn hóa trong xây dựng con người chưa được xác định đúng tầm, còn
có chiều hướng nặng về chức năng giải trí. Phát triển các lĩnh vực văn
hóa chưa đồng bộ, còn phiến diện, nặng về hình thức, chưa đi vào chiều
sâu, thực chất. Thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật lớn, tầm cỡ,
phản ánh được tầm vóc của sự nghiệp đổi mới, có tác dụng tích cực đối với việc
xây dựng đất nước, xây dựng con người. Môi trường văn hóa vẫn bị ô nhiễm bởi
các tệ nạn xã hội, tham nhũng, tiêu cực. Sự chênh lệch về hưởng thụ văn
hóa giữa các vùng, các miền còn lớn.
Đời
sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng
biên giới và hải đảo còn không ít khó khăn. Nhiều di sản văn hóa quý báu của
dân tộc có nguy cơ bị xuống cấp, mai một, thậm chí bị tiêu vong. Công tác lãnh
đạo, chỉ đạo, quản lý văn hóa còn lúng túng, chậm trễ, nhất là trong việc
thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa. Đầu tư
cho văn hóa chưa đúng mức, còn dàn trải, hiệu quả chưa cao…
Chất
lượng và số lượng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác văn hóa chưa đáp ứng
được yêu cầu phát triển văn hóa trong thời kỳ mới. Công tác giới thiệu, quảng
bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài chưa mạnh; tiếp nhận tinh hoa văn
hóa nhân loại còn hạn chế; chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực
để giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc;
nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc
(nói nặng ra là "vô văn hóa", "phản văn hóa").
Những
yếu kém, bất cập nêu trên chậm được giải quyết mặc dù đã được nhắc đi, nhắc lại
trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng. Sự yếu kém, khuyết điểm này đã gây hệ
luỵ, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế-xã hội, đến xây dựng con người và
môi trường văn hóa của chúng ta.
Những
hạn chế, khuyết điểm nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó
nguyên nhân chủ quan vẫn là chính. Đặc biệt là trong công tác lãnh đạo, quản
lý, chúng ta chưa nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc và toàn diện về đường lối văn
hóa của Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
Phương
thức lãnh đạo và quản lý văn hóa chậm được đổi mới, chưa thích ứng kịp thời với
sự vận động và phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế. Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối
văn hóa của Đảng còn thiếu đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả. Công tác tổ chức
và công tác cán bộ trên lĩnh vực văn hóa còn nhiều bất cập. Trách nhiệm của các
cấp ủy đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng
viên đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn hóa chưa cao. Chúng ta cần phân
tích sâu sắc các nguyên nhân này để tìm cách khắc phục, nhằm đẩy mạnh hơn nữa
việc chấn hưng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời gian tới.
Thưa các vị đại biểu, thưa các đồng chí,
Với
tầm nhìn từ nay cho đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nền văn hóa Việt
Nam cũng đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử trong 35 năm đổi mới vừa qua đã tạo nên thế và lực mới, tăng
cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế; niềm tin của nhân dân ngày
càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Với
tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có
được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là một lợi thế
cực kỳ to lớn để chúng ta tăng cường lòng tự hào dân tộc, quyết tâm đổi mới và
chấn hưng văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.
Mặt
khác, những thiếu sót, khuyết điểm trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội,
xây dựng văn hóa vừa qua cũng là những rào cản lớn đối với phát triển văn hóa.
Sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế và cuộc đấu tranh
trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng cũng sẽ diễn ra quyết liệt, phức tạp hơn.
Cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, xã hội số, văn hóa số,...
vừa đem lại những cơ hội, vừa tạo ra thách thức mới trong việc xây dựng và phát
triển văn hóa. Đồng thời, chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức của an
sinh truyền thống, an sinh phi truyền thống, nhất là sự biến đổi khí hậu và dịch
bệnh, trước hết là đối phó, thích ứng và sống cùng đại dịch COVID-19, vừa bảo vệ
sức khoẻ nhân dân, vừa phát triển kinh tế-xã hội.
Đứng
trước những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng
nước ta là phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là "nền tảng tinh thần,"
"động lực phát triển," và "soi đường cho quốc dân đi"; phát
huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, khơi dậy khát vọng
phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn
dân tộc để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thành công mục tiêu
đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào
giữa thế kỷ XXI.
Có
thể nói, phát triển văn hóa là một trong những vấn đề trọng tâm, một nội dung nổi
bật trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Đây là lần đầu tiên trong văn kiện Đại
hội Đảng, Đảng ta đề cập một cách toàn diện và sâu sắc đến lĩnh vực văn hóa, từ
chủ đề Đại hội đến các quan điểm, mục tiêu, định hướng lớn, nhiệm vụ trọng tâm,
đột phá chiến lược.
Văn
kiện Đại hội đã nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo cốt lõi và xuyên suốt
là: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng
phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong
đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất."
Để
tiếp tục xây dựng, giữ gìn, chấn hưng và phát triển nền văn hóa của dân tộc,
chúng ta cần tập trung thực hiện thật tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Một
là, khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn
kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; phát
huy cao độ những giá trị văn hóa, sức mạnh và tinh thần cống hiến của mọi người
Việt Nam, tạo nguồn lực nội sinh và động lực đột phá để thực hiện thành công mục
tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030, tầm nhìn 2045 mà Đại hội XIII của
Đảng đã đề ra.
Hai
là, xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những
giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam,
hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia-dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những
giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa
tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo.
Những
giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi văn hóa gia đình Việt Nam với những giá trị cốt
lõi: Ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: dân tộc, dân chủ,
nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu
phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.
Ba
là, phát triển toàn diện và đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời
sống văn hóa: Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả sáng tạo các giá
trị văn hóa mới. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu
tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ
những giá trị chân-thiện-mỹ. Nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân; xây dựng đời
sống văn hóa vui tươi, lành mạnh, hạnh phúc; khắc phục sự chênh lệch về trình độ
phát triển và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền của đất nước.
Bốn
là, phát huy vai trò chủ thể sáng tạo, chủ thể thụ hưởng văn hóa là nhân dân;
tôn trọng và bảo vệ sự biểu đạt đa dạng của văn hóa, của người dân, các dân tộc,
các vùng, miền; phát triển các phong trào văn hóa sâu rộng, thực chất; cải thiện
điều kiện, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, bảo đảm sự công bằng. Đề
cao, phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, của những
người làm công tác văn hóa.
Năm
là, chú trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức; kiên
quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để Đảng ta và hệ thống chính
trị của nước ta thật sự là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho lương tri và phẩm
giá con người Việt Nam.
Xây
dựng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng
viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo
của Đảng; hiệu quả quản lý của Nhà nước; sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị-xã hội trong sự nghiệp phát triển văn hóa.
Sáu
là, xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và
công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất
nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Khẩn trương phát triển
các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh.
Để
chấn hưng và phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam theo phương hướng
nói trên, trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung thực hiện một cách quyết
liệt và có hiệu quả một số giải pháp sau:
Trước
hết là tiếp tục nâng cao nhận thức và năng lực lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của
Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa để đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa, xây dựng
con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng
sâu rộng. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà
nước nhằm bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong xây dựng, phát
triển văn hóa từ trung ương đến cơ sở.
Cấp
ủy đảng và chính quyền các cấp phải nhận thức sâu sắc và quán triệt đầy đủ các
quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về văn hóa và trên cơ sở đó xây dựng các
chương trình, kế hoạch thực hiện, huy động tối đa các nguồn lực để phát triển
văn hóa. Khắc phục tư tưởng "duy kinh tế," chỉ tập trung cho kinh tế
mà ít quan tâm đến văn hóa. Phải quán triệt nghiêm túc quan điểm "văn hóa
phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội."
Đại
hội XIII của Đảng vừa qua đã xác định: Chiến lược phát triển tổng thể của đất
nước ta trong thời gian tới là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới,
phát triển nhanh và bền vững; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ
các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là then
chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là
trọng yếu, thường xuyên. Đây là quan điểm chỉ đạo rất cơ bản cần phải được triển
khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt trong nhiệm vụ của các ngành, các cấp.
Đối
với công tác quản lý nhà nước, cần sớm khắc phục tình trạng chậm thể chế hóa đường
lối, quan điểm, chủ trương của Đảng thành luật pháp và các chính sách cụ thể,
khả thi về phát triển văn hóa, xây dựng con người. Đẩy mạnh công tác sắp xếp lại
tổ chức bộ máy quản lý văn hóa từ trung ương đến cơ sở. Xây dựng và ban hành cơ
chế, chính sách phù hợp, chú ý đến tính đặc thù của hoạt động văn hóa, nghệ thuật.
Nâng mức đầu tư một cách hợp lý từ nguồn ngân sách nhà nước, đồng thời khơi
thông các nguồn lực xã hội, nguồn lực trong nước và nước ngoài cho phát triển
văn hóa. Trong quá trình đa dạng hóa các hoạt động văn hóa, Nhà nước cần chú trọng
đầu tư vào dòng chủ lưu của văn hóa cách mạng để làm nòng cốt và dẫn dắt, truyền
cảm hứng chủ đạo trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tâm hồn, tình cảm trong sáng,
lành mạnh, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội.
Thứ
hai là xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác văn hóa tương
xứng với yêu cầu và nhiệm vụ phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới; sớm
khắc phục tình trạng chắp vá, tuỳ tiện trong bố trí cán bộ làm công tác văn
hóa, ở cả trung ương và địa phương.
Đảng
ta đã nhiều lần nhấn mạnh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc."
Công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa không chỉ đòi hỏi có phẩm chất chính trị
mà còn phải có trình độ chuyên môn, am hiểu đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, có tầm
nhìn sâu rộng, có khả năng vận động và thuyết phục các tầng lớp nhân dân tham
gia vào công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa. Đặc biệt chú trọng việc đào tạo,
bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ trí thức văn nghệ sỹ làm công tác văn hóa, văn học,
nghệ thuật. Đội ngũ này có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp văn hóa
nói riêng và trong sự nghiệp cách mạng nói chung.
Bác
Hồ đã từng căn dặn: "Để làm trọn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sỹ cần
phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn
thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính
trị, trau dồi nghề nghiệp" (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, trang 647). Đổi
mới chính sách đãi ngộ, sử dụng đối với đội ngũ văn nghệ sỹ và những người làm
công tác văn hóa. Tôn vinh tài năng và cống hiến của họ cho sự phát triển văn
hóa nước nhà.
Bên
cạnh việc tập trung nâng cao đời sống văn hóa ở cơ sở, cần phải chú trọng xây dựng
và phát triển văn hóa đỉnh cao, phấn đấu có nhiều tài năng lớn ở các loại hình
văn hóa, nghệ thuật, có những tác phẩm tầm cỡ, phản ánh được sâu sắc hiện thực
đổi mới vĩ đại của đất nước, có ý nghĩa tích cực trong việc xây dựng nền văn
hóa và con người Việt Nam hiện nay.
Thứ
ba là quan tâm hơn nữa đến việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn
hóa dân tộc, các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các vùng, miền, của
đồng bào các dân tộc, kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa của thời đại. Phát
triển "sức mạnh mềm" của văn hóa Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh
tổng hợp quốc gia trong thời gian tới.
Hiện
nay, cả nước ta có tới 166 bảo tàng, trong đó có 4 bảo tàng quốc gia với hơn 3
triệu hiện vật; 3.486 tổng di tích được xếp hạng quốc gia, trong đó có 1.626 di
tích lịch sử; 105 di tích quốc gia đặc biệt; 288 di sản văn hóa phi vật thể quốc
gia (riêng Hà Nội có 21 lễ hội); 27 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được
UNESCO công nhận là "di sản văn hóa thế giới" (riêng tỉnh Bắc Ninh đã
có 2 di sản văn hóa thế giới là Dân ca quan họ và Ca trù)... Đó là một tài sản
vô cùng quý báu do tổ tiên, cha ông ta mấy nghìn năm để lại, không phải nơi nào
cũng có được; chúng ta có trách nhiệm phải giữ gìn, trân trọng và phát huy. Nếu
không là chúng ta có tội với lịch sử, là vong ân bội nghĩa với tổ tiên, cha ông
chúng ta. Bác Hồ trước lúc đi xa vẫn còn dặn lại rằng: "Muốn yêu Tổ quốc
mình thì phải yêu những khúc hát dân ca!" (Nhạc sỹ Trần Hoàn với bài hát rất
xúc động "Lời Bác dặn trước lúc đi xa," "Giữa Mạc Tư Khoa tôi
nghe câu hò ví dặm").
Thứ
tư là chú trọng xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh trong xã hội, phát huy những
giá trị tích cực về thuần phong, mỹ tục của gia đình và xã hội; nêu cao tinh thần
tương thân, tương ái, đoàn kết; trọng tình nghĩa, trọng công lý và đạo lý xã hội
("Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau
cùng"; "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một
giàn"; "Thương người như thể thương thân"; "Lá lành đùm lá
rách"; "Lá rách ít đùm lá rách nhiều"; "Một con ngựa đau, cả
tàu không ăn cỏ"; "Kính lão đắc thọ"; "Kính già, già để tuổi
cho"; "Anh em như thể chân tay"; "Kính trên nhường dưới";
"Vợ ta đói rách ta thương, vợ người áo gấm xông hương mặc người";
"Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn; Thuận bè thuận bạn tát cạn
biển Đông"; "Đói cho sạch, rách cho thơm"; "Thật thà là cha
quỷ quái"; "Tôn sư trọng đạo"; "Lời chào cao hơn mâm cỗ";
"Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng"; giữ lấy "nếp nhà", giữ
lấy "Chân quê" (bài thơ của Nguyễn Bính năm 1936); giữ lấy tình nghĩa
thuỷ chung son sắt (bài thơ "Việt Bắc" của nhà thơ Tố Hữu năm
1954)... Xây dựng các quy tắc ứng xử văn minh trong các cơ quan công quyền,
trong cộng đồng, nhất là trong không gian mạng, trong giới văn nghệ sỹ…
Kiên
quyết, kiên trì đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực; chống sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "quét sạch chủ nghĩa cá
nhân," nguồn gốc của mọi sự tham nhũng, tiêu cực, hư hỏng ngay trong các
ngành văn hóa, các cơ quan làm công tác văn hóa. Chú trọng thực hiện quy định
nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 4 các khóa XI, XII và đặc biệt là các Kết luận, quyết định của Hội nghị
Trung ương 4 khóa XIII của Đảng mới đây về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống
chính trị.
Thưa các vị đại biểu và các đồng
chí,
Hội
nghị văn hóa toàn quốc của chúng ta hôm nay là một dịp quan trọng để toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta, nhất là những người làm công tác văn hóa, đội ngũ trí
thức, văn nghệ sỹ của cả nước, quán triệt sâu sắc, toàn diện và đồng bộ hơn nữa
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng ta, đặc biệt
là quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về việc xây dựng,
giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc.
Chúng
ta cùng nhau nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn và toàn diện hơn về vai trò, vị
trí đặc biệt quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
cũng như trong việc thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh
phúc, xứng tầm với sự nghiệp đổi mới và truyền thống lịch sử vẻ vang ngàn năm
văn hiến của dân tộc.
Tôi
tha thiết mong rằng, sau Hội nghị này, công tác văn hóa của chúng ta sẽ có bước
chuyển biến, tiến bộ mới, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả cao hơn nữa, ghi một dấu mốc
mới trên con đường chấn hưng, phát triển nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.
Tôi tin rằng, với một Đất nước, một dân tộc trọng văn hiến, trọng hiền tài,
giàu truyền thống yêu nước và cách mạng; Nhân dân đoàn kết, cần cù, sáng tạo; đội
ngũ trí thức, văn nghệ sỹ tâm huyết, tài năng, có trách nhiệm cao với Nhân dân,
với Đảng, với Tổ quốc và tương lai của dân tộc; cùng với sự vào cuộc quyết liệt,
đồng bộ của cả hệ thống chính trị, nhất định chúng ta sẽ khắc phục được mọi khó
khăn, vượt qua mọi thách thức để chấn hưng và xây dựng thành công một nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp tục làm vẻ vang thêm cho
dân tộc, cho giống nòi, tạo thành sức mạnh vô song để xây dựng Tổ quốc ta ngày
càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn
vinh, xứng đáng với truyền thống ngàn năm văn hiến và anh hùng của một dân tộc
anh hùng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Và chỉ có như vậy
thì chúng ta mới có thể nói rằng Hội nghị của chúng ta hôm nay có ý nghĩa thiết
thực và thành công tốt đẹp về thực chất.
Xin
chúc các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các quý vị đại biểu, các đồng chí
và toàn thể đồng bào ta sức khoẻ, hạnh phúc và thắng lợi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!”./.