Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”
của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:
Cơ sở quan trọng cho tổng kết đường lối đổi mới của Đảng
GS, TS. TẠ NGỌC TẤN
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương
Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 15-04-2022
Tổng kết những vấn đề lý luận
và thực tiễn trong đời sống xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm qua hơn 35
năm đổi mới đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nội dung xuyên suốt
của cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Cuốn sách
có ý nghĩa quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của
Đảng ta, khơi dậy và phát huy khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn hiện
nay.
Báo
cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện trình Đại hội
XIII của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày
nêu rõ: "Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường
lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(1). Vậy “lý luận về
đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta” là gì, được phát triển, hoàn thiện ra sao và từng bước được hiện thực
hóa như thế nào? Cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
do Hội đồng Lý luận Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự
thật xuất bản sẽ trả lời những câu hỏi đó.
Mục
đích xuất bản cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
nhằm phục vụ công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đặc biệt là tổng
kết lý luận về đường lối đổi mới và những bài học kinh nghiệm, những vấn đề có
tính quy luật từ thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước ta. Đồng thời,
đây cũng là tài liệu để quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ,
đảng viên và đông đảo nhân dân về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa ở Việt Nam, tạo sự thống nhất tư tưởng trong toàn xã hội, “trên dưới đồng
lòng, dọc ngang thông suốt”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực
hiện những mục tiêu chiến lược Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.
Theo
tinh thần ấy, cuốn sách tuyển chọn 29 bài viết, bài phát biểu tiêu biểu của đồng
chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong thời gian từ khi chuẩn bị xây dựng Văn
kiện Đại hội XIII của Đảng đến nay. Những bài viết, bài phát biểu này đã đúc kết
những thành tựu phát triển lý luận, những kết quả tổng kết thực tiễn mới nhất của
Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” có ý nghĩa như cơ sở dẫn dắt việc tuyển chọn
và sắp xếp các bài viết, bài phát biểu trong cuốn sách, với bốn nội dung cơ bản
mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt ra trong bài viết: 1) Chủ nghĩa xã hội
là gì? 2) Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? 3) Làm thế nào
và bằng cách nào để từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? 4) Thực tiễn
công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý
nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì? Các bài viết, bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí
thư trong cuốn sách này hướng đến đối tượng tiếp nhận là cán bộ, đảng viên và
đông đảo nhân dân, nhằm làm rõ những cơ sở khoa học, thực tiễn, định hướng nhận
thức và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Mỗi bài viết, bài phát biểu đều
có những nội dung thể hiện các vấn đề lý luận chung, đồng thời cũng phân tích
tình hình thực tế, tổng kết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra của đất nước, của
các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Về
chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những thành tựu
quan trọng, cơ bản của Đảng ta trong việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta. Từ lý thuyết
khoa học của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã
hội hiện thực đã ra đời, trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển
của lịch sử nhân loại theo con đường tiến bộ, nhân văn, vì công bằng, hạnh phúc
cho con người. Do những giá trị vô cùng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc và các nhà cách mạng tiền bối nước ta đã lựa chọn con đường phát
triển theo chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam, tổ chức và rèn luyện Đảng Cộng sản để
lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, từng bước hiện thực
hóa những giá trị đó thành thực tế sinh động trên đất nước ta. Những giá trị ấy
không chỉ được tổng kết về lý luận, mà đã được kiểm chứng bằng chính thực tiễn
công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đó là: i) “một xã hội mà trong đó sự
phát triển là thực sự vì con người”; ii) “sự phát triển về kinh tế đi đôi với
tiến bộ và công bằng xã hội”; iii) “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn
nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn”; iv) “sự phát triển bền vững,
hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện
tại và tương lai”; v) “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về
nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”(2). Chính những giá trị
đích thực ấy của chủ nghĩa xã hội đã trở thành mục tiêu, định hướng con đường
cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, tin tưởng
và đang kiên định thực hiện.
Trên
con đường từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ thực tiễn công cuộc đổi mới,
xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã tổng kết, rút ra những nhận thức tổng
quát về chủ nghĩa xã hội với 8 đặc trưng cơ bản: “Một xã hội dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển
cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;
có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng
Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng
Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(3).
Các đặc trưng ấy là nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một thành tựu
phát triển sáng tạo lý luận riêng có của Đảng ta. Để hiện thực hóa mô hình đó,
đòi hỏi cả một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải đầu tư sức người, sức của to lớn,
phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước
đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.
Xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kết quả tìm tòi về
lý luận, tổng kết thực tiễn của Đảng ta, là mô hình phát triển đặc thù của Việt
Nam, phù hợp với điều kiện của giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đặc điểm
của đất nước. Về nội dung này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Mô
hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đây chính là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là
thành quả lý luận quan trọng qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất
phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.
Theo đó, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường
hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh
tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(4).
Trên
cơ sở phân tích, lý giải về kinh tế thị trường nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng làm rõ nhận thức của Đảng ta về nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, chỉ ra và khẳng định thuộc tính quan trọng, đặc trưng cơ bản làm
nên sự khác biệt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt
Nam với những nền kinh tế thị trường khác. Đó là nền kinh tế “gắn kinh tế với
xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế
với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”. Nói cách khác, đó là sự quan tâm đặc
biệt đến chính sách xã hội, chính sách đối với con người, phát triển hài hòa giữa
kinh tế với xã hội, không vì tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ tiến bộ, công bằng
xã hội, phải tạo điều kiện cho con người được thụ hưởng mọi thành tựu của phát
triển, cuộc sống của con người được cải thiện đồng thời với tiến trình xây dựng,
phát triển kinh tế.
Bàn
về văn hóa trong mối quan hệ với kinh tế nói riêng và với các lĩnh vực của đời
sống xã hội nói chung, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Chúng ta coi
văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển
đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với
tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(5). Như vậy, văn hóa không chỉ
được khẳng định là một trong bốn trụ cột chính sách quyết định của Đảng về xây
dựng, phát triển đất nước, mà còn là sự bảo đảm cho định hướng xã hội chủ nghĩa
của nền kinh tế, thể hiện tính nhân văn, ưu việt của chế độ với mục đích hướng
tới con người, vì hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người.
Từ
những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định một lần nữa quyết tâm
chính trị của toàn Đảng, toàn dân: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm
quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch,
vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn
vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với
sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát
triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Đây chính là những tư tưởng, định
hướng chỉ đạo xuyên suốt về các nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước trong
giai đoạn tới, trước mắt là tư tưởng chỉ đạo đối với các nhiệm vụ và giải pháp
triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Để thực hiện thành công
định hướng chung đó, 4 nhiệm vụ như 4 trụ cột chính sách của Đảng là: Phát triển
kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng
tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu và thường xuyên.
Nội
dung về phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ở nhiều bài phát biểu, bài viết
của Tổng Bí thư trong cuốn sách. Khi phát biểu trước Chính phủ nhiệm kỳ mới, đồng
chí Nguyễn Phú Trọng đề cập toàn diện, khái quát về những nội dung, nhiệm vụ
kinh tế - xã hội chung nhất. Đó là phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, trong đó các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật,
bình đẳng trước pháp luật, thực hiện chế độ phân phối công bằng và tạo động lực
cho phát triển. Đó là phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
thể hiện vai trò bảo đảm cho định hướng xã hội chủ nghĩa của tăng trưởng kinh tế.
Đó là con người giữ vị trí trung tâm của chiến lược phát triển; phát triển văn
hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới(7).
Tinh thần chung ấy được cụ thể hóa một bước trong những nội dung, yêu cầu xây dựng,
phát triển các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội. Đó là xây dựng giai cấp
công nhân Việt Nam lớn mạnh - “một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của
công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đó là “Xây dựng
giai cấp nông dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, thực sự là chủ thể của quá
trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”. Đó là chăm lo cho thanh
niên là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và toàn dân, vì “thanh niên là
một bộ phận quan trọng của dân tộc, rường cột của quốc gia. Thanh niên có mạnh
thì dân tộc mới mạnh; trong sức mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh
niên”(8).
Nội
dung kinh tế - xã hội cũng được gắn với trách nhiệm của từng ngành, từng lĩnh vực
trong việc trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia các nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước. Ví dụ, trong bài phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc
ngày 14-12-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm vụ của
ngoại giao trong phát triển kinh tế đất nước. Đó là “Ưu tiên tìm kiếm và mở rộng
thị trường cho hàng hóa, dịch vụ và lao động Việt Nam, thu hút nguồn vốn, công
nghệ và kinh nghiệm quản lý, nhất là FDI hướng vào các lĩnh vực ưu tiên của đất
nước”(9). Cho dù là các luận điểm lý luận có tính khái quát hay các nội dung
nhiệm vụ cụ thể của từng lĩnh vực, ngành, nghề, thì tất cả đều bị chi phối bởi
nguyên tắc: “Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng,
quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của
nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(10).
Về
phát triển văn hóa, con người, xuất phát từ luận điểm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
đã phân tích, chỉ ra quá trình phát triển, hoàn thiện nhận thức của Đảng ta về
văn hóa và con người, trong đó, văn hóa được coi là một trong 4 trụ cột chính
sách, là nền tảng tinh thần, đồng thời cũng là nguồn lực nội sinh, động lực
phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư đi đến nhận định: “Đảng
ta khẳng định: Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người
có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”(11). Đây là một vấn đề
có tính quy luật, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Bởi xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người và vì con
người. Mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là mang lại cuộc sống ấm no, hạnh
phúc, tiến bộ và công bằng cho mọi thành viên xã hội không phân biệt đẳng cấp,
địa vị xã hội. Việc nhận thức rõ và đầy đủ về vai trò, tính chất và mục đích của
phát triển văn hóa là điều kiện để Đảng đưa ra những chủ trương, nhiệm vụ hợp
lý, có hiệu quả về phát triển văn hóa, xây dựng con người đối với các khu vực,
các lứa tuổi, các tầng lớp dân cư.
Đề
cập đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong điều kiện mới của đất nước
và bối cảnh chung của thế giới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh quan điểm
chỉ đạo của Đảng ta đã được thể hiện nhất quán trong các văn kiện của Đại hội
XIII là: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh,
an toàn để phát triển đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện
và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Xử lý đúng đắn,
hiệu quả mối quan hệ với các nước lớn và các nước láng giềng... Khai thác, sử dụng
hiệu quả mọi nguồn lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất
nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”(12). Từ quan điểm chỉ đạo chung
này, các nội dung về đường lối, định hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối
ngoại cụ thể đã được đồng chí Tổng Bí thư phân tích rất sâu sắc. Trong bài phát
biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng yêu cầu Đảng bộ Quân đội cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vị trí, vai trò
của quân đội ta là “Quân đội nhân dân, Quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân và được đặt dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng”(13),
để thực hiện được 6 nhiệm vụ về: Quán triệt, nhận thức sâu sắc về bản chất,
trách nhiệm của quân đội; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh,
gương mẫu, tiêu biểu; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường mối
quan hệ máu thịt của quân đội với nhân dân; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ
xa; phối hợp các bộ, ngành, địa phương để tăng cường tiềm lực quốc phòng và thế
trận quốc phòng toàn dân; thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng “Quân đội
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân, binh chủng, lực lượng tiến
thẳng lên hiện đại”. Do vậy, “Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với
Tổ quốc, gắn bó máu thịt với nhân dân”. Về vấn đề an ninh, Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu tập trung quyết liệt, thực hiện đồng bộ các giải
pháp để xây dựng “lực lượng công an thật sự trong sạch, vững mạnh, gần dân, sâu
sát cơ sở”; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, các bộ, ngành, địa
phương và quân đội để “giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
trong mọi tình huống; tuyệt đối không chủ quan, lơ là; không để bị động, bất ngờ”(14).
Về
lĩnh vực đối ngoại, từ việc tổng kết thực tiễn công tác đối ngoại của Đảng, ngoại
giao của Nhà nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát về trường phái
ngoại giao “Cây tre Việt Nam” - mang đậm bản sắc dân tộc, “dĩ bất biến, ứng vạn
biến”, “giữ trái tim nóng, cái đầu lạnh”, “kiên quyết, kiên trì” để xử lý các
thách thức đối ngoại một cách mềm mại mà hiệu quả, tranh thủ các điểm đồng về lợi
ích để thúc đẩy hợp tác và phát triển, bảo vệ tối đa lợi ích của dân tộc. Việc
xây dựng, phát triển và phát huy vai trò của trường phái ngoại giao “Cây tre Việt
Nam” là điều kiện, cơ sở để hoạt động đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hoàn thành
được nhiệm vụ cơ bản đặt ra là: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc
tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên
ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước”(15).
Nội
dung về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị giữ vị trí đặc biệt quan trọng
trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với gần một nửa số bài viết. Vị
trí quan trọng này phản ánh vai trò, vị trí có ý nghĩa quyết định của công tác
xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và
công cuộc đổi mới nói riêng, cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Nội dung
các vấn đề về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị bao quát một cách toàn diện,
từ cơ sở lý luận chung đến những vấn đề cụ thể về phương hướng, nhiệm vụ, giải
pháp xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ, kiểm tra,
dân vận, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân. Xuất phát từ
quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng
lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Công tác xây dựng
Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt của Đảng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối
với sự nghiệp cách mạng nước ta”. Vì thế, “phải tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng
với tinh thần tích cực và kiên quyết, mạnh mẽ, nhằm tạo ra một bước chuyển biến
rõ rệt hơn nữa trên các mặt”. Mục đích hướng tới của công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng là xây dựng “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức
chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó
máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch,
không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”(16).
Để
đạt được mục đích ấy, “phải hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định,
vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời
không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”.
Trong đó, “Lý luận phải vươn lên dẫn đường và đồng hành với thực tiễn”, “phải
có tầm nhìn vượt trước”, phải tạo được những bước đột phá về lý luận phát triển,
khai thông những điểm nghẽn về tư duy, nhận thức, quan điểm phục vụ cho việc
hoàn thiện thể chế, xây dựng đường lối, chủ trương...”(17). Cần phải tiếp tục đổi
mới hoàn thiện tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; tăng cường xây dựng,
giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, nhất là
“đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, là tinh hoa của Đảng, đòi hỏi phải thật sự vững
vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ và có uy tín cao để giải quyết những
công việc ở tầm chiến lược”(18). Đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng,
đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là “một bộ phận quan trọng trong toàn bộ
công tác xây dựng Đảng”, “là một chức năng lãnh đạo của Đảng”, “Mọi tổ chức đảng
và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra,
giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng”. Kiểm tra, giám sát là “thanh bảo kiếm để
chữa lành các vết thương”(19)…
Đối
với Quốc hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt
quan trọng với tính chất là “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Để
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới, Quốc hội cần
“tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động”, thực hiện thật tốt các chức
năng: xây dựng pháp luật, tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động của đất
nước, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an
ninh, đối ngoại; đại biểu cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; quyết định
các vấn đề quan trọng của đất nước “theo hướng ngày càng chính xác, thực chất
hơn”; “đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát”;“Đẩy mạnh hoạt
động đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế”(20).
Về
công tác tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ
rõ vai trò, trách nhiệm của Chính phủ là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất,
thực hiện quyền hành pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là cơ
quan trực tiếp tổ chức, quản lý, triển khai thực hiện có hiệu quả mọi chủ
trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, biến đường lối, chủ trương của Đảng,
pháp luật của Nhà nước thành hiện thực sinh động, mang lại ấm no, tự do, hạnh
phúc cho nhân dân, làm vẻ vang cho dân tộc, cho giống nòi”(21). Để hoàn thành
trách nhiệm đó, Chính phủ cần phải “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương
thức hoạt động”, đặc biệt quan tâm đến công tác “xây dựng tổ chức, bộ máy và
công tác cán bộ”; “đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc phân cấp, phân quyền,
phân công, phối hợp”; “siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính”; kiên trì, kiên
quyết “đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”; “đóng góp to lớn
hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất
nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.
Trong
cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đây cũng là
vấn đề được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cập ở nhiều bài viết, bài phát biểu,
trong đó tập trung nhất là bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc triển khai
Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội
XIII của Đảng. Đồng chí Tổng Bí thư nhắc lại và nhấn mạnh các quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với
dân”, “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”. Cũng từ quan điểm này, đồng
chí Tổng Bí thư đã khái quát thành luận điểm rất sâu sắc, quan trọng trong bài
phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, được
cán bộ, đảng viên và nhân dân rất đồng tình, ủng hộ: “Ta làm hợp lòng dân thì
dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân,
để mất niềm tin là mất tất cả”. Nhằm củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân
đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí, quyết tâm và sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần “năng động, sáng tạo, đổi
mới mạnh mẽ hơn nữa; thiết thực, hiệu quả cao hơn nữa, góp phần tập hợp ngày
càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc; tăng cường
mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức
mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta
ngày càng hạnh phúc; Đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh”(22).
Tựu
trung lại, cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
là một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về
những phát triển sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt
Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh. Trên nền tảng tư duy lý luận sâu sắc, cuốn sách đã trình bày, phân
tích, lý giải các vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt
Nam và nội dung, giải pháp để từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một
cách khúc triết, rành mạch, rõ ràng, dung dị và dễ hiểu. Cuốn sách của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về
đường lối đổi mới của Đảng ta, là tài liệu quý để giáo dục chính trị, tư tưởng,
nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tạo nên sự đồng thuận xã hội để khơi dậy,
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu:
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, để đến giữa thế kỷ XXI, nước
ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.
---------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. I,
tr. 25
(2) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.
21
(3) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 24
(4) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 91
(5) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 27
(6) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 68 – 69
(7) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 91 – 93
(8) Xem các bài: “Xây dựng
giai cấp công nhân lớn mạnh cùng tổ chức Công đoàn lớn mạnh”, tr. 284 - 294;
“Xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, thực sự là chủ thể của
quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”, tr. 295 - 305; “Chăm
lo cho thanh niên là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội”,
tr. 306 - 314...
(9) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 196
(10) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 240
(11) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 165
(12) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 49
(13) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 443
(14) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 458
(15) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 192
(16) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 226
(17) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 277
(18) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 339
(19) Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 152
(20) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 79 – 80
(21) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 98
(22) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr. 118