THỰC TIỄN 40 NĂM ĐỔI MỚI KHẲNG ĐỊNH TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Vũ Văn Vân
GV kiêm nhiệm Phòng Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học
Tóm tắt: Bài
viết phân tích những thành tựu nổi bật của Việt Nam sau 40 năm thực hiện công
cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, qua đó khẳng định
tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở làm
rõ quan điểm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển đất nước, bài
viết tập trung phân tích các thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, thể chế
và đối ngoại. Những kết quả đạt được đã góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, củng
cố tiềm lực, vị thế quốc gia và tạo nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên
phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đồng thời, bài viết cung cấp
những luận cứ thực tiễn góp phần bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ
nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Từ khóa:
Chủ nghĩa xã hội; Con đường phát triển của Việt Nam; Đổi mới; Kỷ nguyên vươn
mình của dân tộc; Thành tựu phát triển.
1.
Bối cảnh và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng
và lãnh đạo từ Đại hội VI (1986) là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trong tiến
trình phát triển đất nước. Trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng, cơ chế quản
lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế, đời sống Nhân dân gặp
nhiều khó khăn, Đảng đã chủ trương đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư
duy kinh tế, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là sự vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều
kiện Việt Nam.
Sau sự tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và Đông Âu, các thế lực thù địch liên tục tuyên truyền rằng chủ nghĩa xã hội đã
"lỗi thời" hoặc cho rằng Việt Nam đã từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa
khi phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, mỗi quốc gia
có điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hóa khác nhau nên không thể áp
dụng một mô hình phát triển duy nhất. Đối với Việt Nam, độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn được hình thành từ thực tiễn cách mạng
và được kiểm nghiệm qua nhiều giai đoạn phát triển.
Sau 40 năm đổi mới (1986–2026), Việt Nam đã đạt nhiều
thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và
đối ngoại. Quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, đời sống Nhân dân được cải
thiện, hệ thống chính trị tiếp tục được hoàn thiện, vị thế và uy tín quốc tế
ngày càng được nâng cao, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới.
Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
nghị quyết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, thúc đẩy khoa học - công
nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, giáo dục
và văn hóa; đồng thời tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành
chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên nền tảng đó,
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định các định hướng chiến lược đưa đất nước
bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong bối cảnh mới, việc nhìn lại thành tựu 40 năm đổi
mới không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn mà còn góp phần cung cấp cơ sở
khoa học để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2. Quan
điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong
suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là sự lựa
chọn về lý luận mà còn là kết quả tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam và kinh
nghiệm quốc tế. Thực tiễn lịch sử cho thấy chỉ có con đường xã hội chủ nghĩa
mới bảo đảm sự phát triển bền vững, gắn độc lập dân tộc với tiến bộ và công
bằng xã hội.
Từ
khi tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986, Đảng không ngừng bổ sung và phát
triển nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân
dân Việt Nam xây dựng là xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”, do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và điều kiện phát
triển toàn diện.
Đại
hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội và xác định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ. Đây là mô hình vừa vận hành
theo các quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ
nghĩa thông qua vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự
lãnh đạo của Đảng. Đại hội đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế phát
triển, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số để tạo động lực tăng trưởng mới.
Trong
các bài viết và phát biểu gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh Việt Nam
đang đứng trước thời cơ lịch sử để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước đã tích lũy được những tiền đề quan trọng về
kinh tế, chính trị, xã hội và đối ngoại, tạo nên thế và lực mới cho phát triển.
Trên cơ sở đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đề ra các định hướng chiến lược
nhằm phát triển đất nước nhanh và bền vững, tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học - công nghệ, đổi
mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân tộc.
Những
quan điểm trên cho thấy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam luôn được bổ sung, phát triển trên cơ sở tổng kết thực
tiễn và yêu cầu của từng giai đoạn. Sự kiên định về mục tiêu, đồng thời linh
hoạt và sáng tạo trong phương thức phát triển đã tạo nền tảng lý luận vững chắc
cho công cuộc đổi mới. Chính thực tiễn phát triển của đất nước sau 40 năm đổi
mới là minh chứng thuyết phục khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
3. Thành tựu 40 năm đổi mới –
minh chứng thực tiễn cho tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
Sau
40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Những kết quả đó không chỉ nâng
cao đời sống Nhân dân mà còn khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn phát triển của đất nước là minh
chứng sinh động bác bỏ các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận con đường phát triển
mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Điều này được thể hiện trên các khía cạnh
sau:
Kinh tế tăng trưởng
mạnh mẽ, quy mô và tiềm lực nền kinh tế không ngừng mở rộng
Một trong những thành tựu nổi bật nhất của công cuộc
đổi mới là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Từ một nền kinh tế lạc hậu,
khủng hoảng trước đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền
kinh tế tăng trưởng khá cao trong khu vực.
Giai đoạn 2021–2025, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân
đạt khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới; riêng năm 2025 đạt
8,02%, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn
tiếp theo. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020, xếp
thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm
nước có thu nhập trung bình cao. Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện
khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khoảng 47%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa; khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng tỷ trọng, trong khi nông
nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực. Việt Nam từ
nước thiếu lương thực đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng
đầu thế giới và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Hoạt động thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế tiếp
tục phát triển mạnh. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,07 tỷ USD,
trong đó xuất khẩu đạt 475,06 tỷ USD, nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, đưa
Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn trên thế giới. Mạng
lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiếp tục mở rộng không gian phát
triển cho nền kinh tế.
Những kết quả trên khẳng định hiệu quả của mô hình
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển vì con người và tiến bộ xã hội.
Đời sống Nhân dân
không ngừng được cải thiện, tiến bộ và công bằng xã hội được bảo đảm
Song hành với tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất
và tinh thần của Nhân dân được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hệ
thống giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ xã hội tiếp tục được mở rộng, góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền
vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền
núi đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Những kết
quả đó thể hiện rõ bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện
thể chế và cải cách bộ máy nhà nước, tạo động lực mới cho phát triển
Một thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới là việc
không ngừng hoàn thiện thể chế và cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng
tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Năm 2025 đánh dấu bước tiến quan trọng trong sắp xếp
đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp
phần nâng cao hiệu lực quản lý và tạo thuận lợi cho việc hoạch định, thực thi
chính sách.
Đồng thời, nhiều nghị quyết quan trọng của Trung ương
và Bộ Chính trị về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế
tư nhân, hội nhập quốc tế, hoàn thiện pháp luật, phát triển kinh tế nhà nước,
giáo dục và văn hóa đã tạo nên hệ thống chính sách đồng bộ, khơi thông nguồn
lực và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.
Vị thế và uy tín quốc
tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao
Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thiết lập quan hệ
ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, tham gia tích cực vào nhiều
tổ chức quốc tế và khu vực, đồng thời đóng góp ngày càng tích cực vào các vấn đề
chung của cộng đồng quốc tế.
Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác và phát triển đã giúp Việt Nam xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác rộng
khắp, khẳng định vị thế là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của
cộng đồng quốc tế. Những thành tựu đối ngoại góp phần củng cố môi trường hòa
bình, ổn định và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được trên các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, thể chế và đối ngoại đã tạo ra thế và lực mới cho đất
nước, đồng thời là cơ sở thực tiễn thuyết phục khẳng định tính đúng đắn của
đường lối đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
4. Đấu tranh bác bỏ các luận
điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Cùng
với quá trình phát triển của đất nước, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội
chính trị không ngừng xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Những luận điệu như cho rằng chủ nghĩa xã hội đã "lỗi
thời", Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa hoặc phủ nhận vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đều không phù hợp với thực tiễn. Thành
tựu hơn 40 năm đổi mới chính là cơ sở khách quan và thuyết phục để bác bỏ những
quan điểm sai trái đó.
Thứ nhất, thực tiễn phát triển của Việt Nam khẳng định
chủ nghĩa xã hội không phải là mô hình "lỗi thời"
Một
số quan điểm cho rằng sự tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu đồng nghĩa với sự thất bại của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đó là cách nhìn
phiến diện, bởi sự khủng hoảng của một mô hình cụ thể không đồng nghĩa với việc
phủ nhận các giá trị nhân văn và tiến bộ của chủ nghĩa xã hội. Mỗi quốc gia có
điều kiện lịch sử, kinh tế và văn hóa khác nhau nên con đường phát triển cũng
không thể giống nhau.
Việt
Nam đã lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Từ một quốc gia nghèo nàn, khủng hoảng trước đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở
thành nền kinh tế có quy mô trên 500 tỷ USD, duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc
nhóm cao trong khu vực và không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân. Những thành
tựu đó là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng
và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Thứ hai, phát triển kinh tế thị trường không đồng
nghĩa với từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa
Một
luận điệu khác cho rằng phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đồng
nghĩa với việc Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Thực chất, kinh tế thị trường
là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại và được nhiều quốc gia với các
chế độ chính trị khác nhau vận dụng. Điều quyết định không phải là bản thân cơ
chế thị trường mà là mục tiêu phát triển và phương thức quản lý.
Ở
Việt Nam, kinh tế thị trường được phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
nhằm huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, đồng thời bảo đảm tiến bộ,
công bằng xã hội và không để ai bị bỏ lại phía sau. Thực tiễn hơn 40 năm đổi
mới cho thấy tăng trưởng kinh tế luôn gắn với giảm nghèo, mở rộng an sinh xã
hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và cải thiện đời sống Nhân dân. Đây là
minh chứng cho sự kết hợp hiệu quả giữa cơ chế thị trường và định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Thứ ba, công cuộc đổi mới là sự vận dụng sáng tạo lý
luận vào thực tiễn Việt Nam.
Có
ý kiến cho rằng đổi mới thực chất là quá trình chuyển sang chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên, đổi mới ở Việt Nam không phải là thay đổi mục tiêu phát triển mà là
đổi mới tư duy, cơ chế và phương thức tổ chức thực hiện để đạt mục tiêu độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trong
quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu chiến lược,
đồng thời chủ động tiếp thu những thành tựu của nhân loại để hoàn thiện thể
chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế phù hợp với điều kiện đất nước. Chính sự kết hợp giữa kiên định mục
tiêu và đổi mới phương thức phát triển đã tạo nên bản sắc riêng của con đường
phát triển Việt Nam, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng,
an ninh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia.
Nhìn
tổng thể, thực tiễn hơn 40 năm đổi mới đã cung cấp những bằng chứng khách quan
khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, việc
tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của con đường phát triển mà Đảng và
Nhân dân ta đã lựa chọn có ý nghĩa quan trọng trong củng cố niềm tin xã hội,
tăng cường đồng thuận và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tóm lại, Sau
40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Thực tiễn đó
khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo của đường lối đổi mới cũng như con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Những kết
quả đạt được cho thấy việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, vừa tạo động lực tăng
trưởng kinh tế, vừa bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống Nhân
dân. Đồng thời, đây cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng để bác bỏ các quan điểm
sai trái, xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bước vào
giai đoạn phát triển mới sau Đại hội XIV của Đảng, việc tiếp tục kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đẩy mạnh đổi mới
tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc và tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ sẽ tạo nền tảng để đất nước phát
triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam phồn vinh,
hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng
sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển
năm 2011), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng
Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội.
3. Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị
quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội.
4. Bộ
Chính trị (2025), Nghị quyết số
71-NQ/TW về đột phá, phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội.
5. Bộ
Chính trị (2026), Nghị quyết số
79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, Hà Nội.
6. Bộ
Chính trị (2026), Nghị quyết số
80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.
7. Chính
phủ (2025), Dự thảo Báo cáo tổng kết
một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội
chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ,
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-tong-ket-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-cong-cuoc-doi-moi-theo-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-trong-40-nam-qua-o-viet-nam-11925101609232867.htm.