KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ (27/7/1947 - 27/7/2026)!

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 07/07/2026]

THỰC TIỄN 40 NĂM ĐỔI MỚI KHẲNG ĐỊNH TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Vũ Văn Vân
GV kiêm nhiệm Phòng Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học

Tóm tắt: Bài viết phân tích những thành tựu nổi bật của Việt Nam sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, qua đó khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ quan điểm của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường phát triển đất nước, bài viết tập trung phân tích các thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, thể chế và đối ngoại. Những kết quả đạt được đã góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, củng cố tiềm lực, vị thế quốc gia và tạo nền tảng để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đồng thời, bài viết cung cấp những luận cứ thực tiễn góp phần bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội; Con đường phát triển của Việt Nam; Đổi mới; Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; Thành tựu phát triển.

1. Bối cảnh và yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới

Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI (1986) là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trong tiến trình phát triển đất nước. Trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế, đời sống Nhân dân gặp nhiều khó khăn, Đảng đã chủ trương đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Sau sự tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch liên tục tuyên truyền rằng chủ nghĩa xã hội đã "lỗi thời" hoặc cho rằng Việt Nam đã từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa khi phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hóa khác nhau nên không thể áp dụng một mô hình phát triển duy nhất. Đối với Việt Nam, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn được hình thành từ thực tiễn cách mạng và được kiểm nghiệm qua nhiều giai đoạn phát triển.

Sau 40 năm đổi mới (1986–2026), Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, đời sống Nhân dân được cải thiện, hệ thống chính trị tiếp tục được hoàn thiện, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao, tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới.

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, giáo dục và văn hóa; đồng thời tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên nền tảng đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định các định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong bối cảnh mới, việc nhìn lại thành tựu 40 năm đổi mới không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn mà còn góp phần cung cấp cơ sở khoa học để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

2. Quan điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là sự lựa chọn về lý luận mà còn là kết quả tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. Thực tiễn lịch sử cho thấy chỉ có con đường xã hội chủ nghĩa mới bảo đảm sự phát triển bền vững, gắn độc lập dân tộc với tiến bộ và công bằng xã hội.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986, Đảng không ngừng bổ sung và phát triển nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam xây dựng là xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, do Nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và điều kiện phát triển toàn diện.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và xác định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ. Đây là mô hình vừa vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội đồng thời nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo động lực tăng trưởng mới.

Trong các bài viết và phát biểu gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh Việt Nam đang đứng trước thời cơ lịch sử để bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước đã tích lũy được những tiền đề quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội và đối ngoại, tạo nên thế và lực mới cho phát triển. Trên cơ sở đó, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đề ra các định hướng chiến lược nhằm phát triển đất nước nhanh và bền vững, tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những quan điểm trên cho thấy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam luôn được bổ sung, phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu của từng giai đoạn. Sự kiên định về mục tiêu, đồng thời linh hoạt và sáng tạo trong phương thức phát triển đã tạo nền tảng lý luận vững chắc cho công cuộc đổi mới. Chính thực tiễn phát triển của đất nước sau 40 năm đổi mới là minh chứng thuyết phục khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

3. Thành tựu 40 năm đổi mới – minh chứng thực tiễn cho tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Những kết quả đó không chỉ nâng cao đời sống Nhân dân mà còn khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn phát triển của đất nước là minh chứng sinh động bác bỏ các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận con đường phát triển mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Điều này được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, quy mô và tiềm lực nền kinh tế không ngừng mở rộng

Một trong những thành tựu nổi bật nhất của công cuộc đổi mới là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Từ một nền kinh tế lạc hậu, khủng hoảng trước đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng khá cao trong khu vực.

Giai đoạn 2021–2025, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới; riêng năm 2025 đạt 8,02%, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn tiếp theo. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện khi đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đạt khoảng 47%[1].

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng tỷ trọng, trong khi nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực. Việt Nam từ nước thiếu lương thực đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hoạt động thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục phát triển mạnh. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,07 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 475,06 tỷ USD, nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD[2], đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn trên thế giới. Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tiếp tục mở rộng không gian phát triển cho nền kinh tế.

Những kết quả trên khẳng định hiệu quả của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển vì con người và tiến bộ xã hội.

Đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, tiến bộ và công bằng xã hội được bảo đảm

Song hành với tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa và các dịch vụ xã hội tiếp tục được mở rộng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Những kết quả đó thể hiện rõ bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế và cải cách bộ máy nhà nước, tạo động lực mới cho phát triển

Một thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới là việc không ngừng hoàn thiện thể chế và cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Năm 2025 đánh dấu bước tiến quan trọng trong sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý và tạo thuận lợi cho việc hoạch định, thực thi chính sách.

Đồng thời, nhiều nghị quyết quan trọng của Trung ương và Bộ Chính trị về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, hoàn thiện pháp luật, phát triển kinh tế nhà nước, giáo dục và văn hóa đã tạo nên hệ thống chính sách đồng bộ, khơi thông nguồn lực và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.

Vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới, tham gia tích cực vào nhiều tổ chức quốc tế và khu vực, đồng thời đóng góp ngày càng tích cực vào các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đã giúp Việt Nam xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác rộng khắp, khẳng định vị thế là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Những thành tựu đối ngoại góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định và nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, thể chế và đối ngoại đã tạo ra thế và lực mới cho đất nước, đồng thời là cơ sở thực tiễn thuyết phục khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

4. Đấu tranh bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Cùng với quá trình phát triển của đất nước, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị không ngừng xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu như cho rằng chủ nghĩa xã hội đã "lỗi thời", Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đều không phù hợp với thực tiễn. Thành tựu hơn 40 năm đổi mới chính là cơ sở khách quan và thuyết phục để bác bỏ những quan điểm sai trái đó.

Thứ nhất, thực tiễn phát triển của Việt Nam khẳng định chủ nghĩa xã hội không phải là mô hình "lỗi thời"

Một số quan điểm cho rằng sự tan rã của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đồng nghĩa với sự thất bại của chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, đó là cách nhìn phiến diện, bởi sự khủng hoảng của một mô hình cụ thể không đồng nghĩa với việc phủ nhận các giá trị nhân văn và tiến bộ của chủ nghĩa xã hội. Mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, kinh tế và văn hóa khác nhau nên con đường phát triển cũng không thể giống nhau.

Việt Nam đã lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện thực tiễn. Từ một quốc gia nghèo nàn, khủng hoảng trước đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô trên 500 tỷ USD, duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân. Những thành tựu đó là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ hai, phát triển kinh tế thị trường không đồng nghĩa với từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa

Một luận điệu khác cho rằng phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đồng nghĩa với việc Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Thực chất, kinh tế thị trường là thành tựu chung của nền văn minh nhân loại và được nhiều quốc gia với các chế độ chính trị khác nhau vận dụng. Điều quyết định không phải là bản thân cơ chế thị trường mà là mục tiêu phát triển và phương thức quản lý.

Ở Việt Nam, kinh tế thị trường được phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, đồng thời bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và không để ai bị bỏ lại phía sau. Thực tiễn hơn 40 năm đổi mới cho thấy tăng trưởng kinh tế luôn gắn với giảm nghèo, mở rộng an sinh xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và cải thiện đời sống Nhân dân. Đây là minh chứng cho sự kết hợp hiệu quả giữa cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, công cuộc đổi mới là sự vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn Việt Nam.

Có ý kiến cho rằng đổi mới thực chất là quá trình chuyển sang chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên, đổi mới ở Việt Nam không phải là thay đổi mục tiêu phát triển mà là đổi mới tư duy, cơ chế và phương thức tổ chức thực hiện để đạt mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời chủ động tiếp thu những thành tựu của nhân loại để hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phù hợp với điều kiện đất nước. Chính sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu và đổi mới phương thức phát triển đã tạo nên bản sắc riêng của con đường phát triển Việt Nam, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia.

Nhìn tổng thể, thực tiễn hơn 40 năm đổi mới đã cung cấp những bằng chứng khách quan khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, việc tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của con đường phát triển mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn có ý nghĩa quan trọng trong củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tóm lại, Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Thực tiễn đó khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo của đường lối đổi mới cũng như con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Những kết quả đạt được cho thấy việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, vừa tạo động lực tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Đồng thời, đây cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng để bác bỏ các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội XIV của Đảng, việc tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời đẩy mạnh đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ sẽ tạo nền tảng để đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


 

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Hà Nội.

4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá, phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội.

5. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, Hà Nội.

6. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.

7. Chính phủ (2025), Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-tong-ket-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-cong-cuoc-doi-moi-theo-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-trong-40-nam-qua-o-viet-nam-11925101609232867.htm.

 

 



[1] https://baochinhphu.vn/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-102260206213400242.htm

[2]https://www.customs.gov.vn/index.jsp?pageId=442&tkId=9328&group=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch&category=Ph%C3%A2n%20t%C3%ADch%20%C4%91%E1%BB%8Bnh%20k%E1%BB%B3#:~:text=N%C4%83m%202025%2C%20t%E1%BB%95ng%20tr%E1%BB%8B%20gi%C3%A1,USD%20so%20v%E1%BB%9Bi%20n%C4%83m%20tr%C6%B0%E1%BB%9Bc.