THẲNG LỢI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - THẮNG LỢI CỦA ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG TA
Đặng Thị Phương – Khoa Xây dựng Đảng
Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi đầu tiên của dân tộc Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và đây cũng là một trong những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á đã đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Với thắng lợi này nước ta từ một nước thuộc địa, nữa phong kiến trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật trở thành đảng cầm quyền.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo của Đảng ta với đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo là nhân tố đóng vai trò quyết định đến thắng lợi này. Vậy đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta được thể hiện như thế nào trong quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền?
Đường lối cách mạng đúng đắn là đường lối đó phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, giải quyết được yêu cầu lịch sử đặt ra. Đường lối cách mạng sáng tạo là đường lối, một mặt không trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc, mặt khác nó lại phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước. Tóm lại đường lối đúng đắn, sáng tạo chính là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh nước ta.
Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam - phong trào công nhân trưởng thành từ phong trào yêu nước, sau khi tìm thấy con đường cứu nước, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước với việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức để thành lập nên một chính đảng vô sản ở Việt Nam, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay trong tác phẩm nổi tiếng của Người như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường kách mệnh,… Người đã chỉ rõ tính chất của cách mạng Việt Nam không phải là cuộc cách mạng tư sản cũng không phải là cuộc cách mạng vô sản mà là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng; sau đó trong bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (02-1930) xác định là cuộc cách mạng tư sản dân quyền và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (02-1951) được nhận thức rõ hơn là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đường lối cách mạng của Đảng đã được thể hiện trong bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được thông qua trong Hội nghị thành lập Đảng (02-1930) và đến Hội nghị Trung ương Đảng (5-1941) đã đánh dấu sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng ta. Đường lối đó đã thể hiện sự đúng đắn, sáng tạo từ việc xác định nhiệm vụ cách mạng, lực lượng cách mạng, phương pháp cách mạng đến xây dựng lực lượng, dự báo thời cơ.
Trước hết, về nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của cách mạng Việt Nam đã được thể hiện trong bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể đã xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[1] và xác định rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc và chống phong kiến, đã thể hiện sự thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc. Đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) Đảng ta đã xác định nhiệm vụ cụ thể sát với thực tiễn cách mạng Việt Nam “cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng giải quyết hai vấn đề: phản đế và đền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng[2]. Với tư cách là người chủ trì Hội nghị, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[3]. Như vậy, tinh thần giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu thích hợp đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Về lực lượng cách mạng, Đảng ta cũng đã vận dung sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam. Đó là, trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc Việt Nam phải phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, coi “công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông”. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh”, Người đã khẳng định “Cách mạng là việc chung của dân chúng chứ không phải việc của một hai người”[4]. Đồng thời, Người cũng khẳng định rằng “lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn ai hết. Không ai chiến thắng được lực lượng đó”[5]. Như vậy, sự sáng tạo của Đảng ta ở chỗ một mặt đề cao vai trò khối liên minh công nông nhưng mặt khác cũng không hạ thấp, xem nhẹ các lực lượng khác mà ngược lại phải biết quy tụ, đoàn kết, tập hợp các lực lượng nhỏ lẻ xung quanh để cùng đấu tranh. Bởi vậy, ngày từ đầu Đảng ta đã nhận thức rõ sự cần thiết cần phải thành lập mặt trận để tập hợp lực lượng cách mạng, được thể hiên từ chủ trương thành lập Hội phản đế đồng minh (11-1930), thành lập mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương (7-1936) và đỉnh cao đã thành lập Mặt trận Việt Minh (5-1941) với thành phần tham gia rộng rãi, tổ chức chặt chẽ, thống nhất. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chính là sự thắng lợi của sự đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, thắng lợi của tinh thần dân tộc của hơn 20 triệu người dân yêu nước Việt Nam.
Về phương pháp cách mạng, Đảng ta đã vận dụng tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác-Lênin, cách mạng Tháng Mười Nga và cách mạng thế giới một cách sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta, để tiến hành cách mạng Tháng Tám bằng bạo lực cách mạng của quần chúng. Trong giai đoạn 1939-1945, Đảng đã sớm xác định con đường khởi nghĩa vụ trang để giành chính quyền, đi từ khởi nghĩa từng phần, giành thắng lợi từng bước, tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Như vậy, với phương pháp cách mạng độc đáo, sáng tạo đã làm nên thành công của cách mạng Tháng Tám.
Về xây dựng lực lượng, tiếp nhận quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin coi các mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng ta nhấn mạnh xây dựng lực lượng chính trị kết hợp với lực lượng vũ trang, tạo sức mạnh to lớn; đồng thời kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị và đấu trang vũ trang để thực hiện nhiệm vụ tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong quá trình xây dựng lực lượng, ngay từ đầu trọng tâm của công tác được Đảng ta xác định là ra sức tuyên truyền, củng cố các đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, rồi lựa chọn những người ưu tú nhất trong các tổ chức cứu quốc để xây dựng các lực lượng vũ trang, nửa vũ trang. Trên cơ sở lực lượng chính trị hùng hậu, các đội lực lượng vũ trang lần lượt được thành lập như đội Du kích Bắc Sơn, Cứu Quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân,…Trong chỉ đạo Tổng khởi nghĩa, Đảng ta chủ trương sử dụng lực lượng chính trị là chủ yếu và lấy lực lượng vũ trang làm chỗ dựa. Đây chính là nét độc đáo, sáng tạo, mang tính đặc thù của cách mạng Tháng Tám so với các cuộc cách mạng ở các nước khác trên thế giới.
Khả năng nhận định và dự báo thời cơ trong cách mạng Tháng Tám đã được thực tiễn chứng minh là hoàn toàn chính xác. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng ta đã nhận định chiến tranh thế giới sẽ gây ra thảm họa đối với loài người, trong đó có nhân dân Việt Nam, nhưng cũng làm cho nhân dân lao động nhanh chóng giác ngộ đi vào con đường cách mạng để tự cứu mình; chiến tranh thế giới sẽ làm suy yếu bọn đế quốc, tạo điều kiện cho cách mạng thắng lợi: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”[6]. Trong Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ rõ: “Dù sao ta không thể đem việc quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương làm điều kiện tất yếu cho cuộc tổng khởi nghĩa của ta; vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện. Nếu cách mạng Nhật bùng nổ và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần thì khi ấy dù quân Đồng minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”[7]. Thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong cách mạng Tháng Tám là Đảng ta đã chọn đúng thời cơ “nổ ra đúng lúc”. Đó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền Nam và khi 20 vạn quân Tưởng chưa vào miền Bắc để giải giáp quân Nhật; quân Nhật bại trận mất tình thần, hoang mang rệu rã ngồi chờ quân đồng minh đến tước vũ khí; còn chính quyền bù nhìn tay sai Trần Trọng Kim thì bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Do chọn đúng thời cơ nên sức mạnh của toàn dân tộc được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh chóng, ít tổn thất. Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 của Việt Nam thành công đã chứng minh những nhận định và hành động của Đảng ta vô cùng sáng suốt, có sự chủ động, sáng tạo rất cao; chứng tỏ tầm nhìn thời đại của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tóm lại, trên nền tảng của lý luận mác xít, thực tiễn thắng lợi của cách mạng Tháng Tám đã chứng minh Đảng ta đã chủ động, sáng tạo đề ra đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn từ việc xác định nhiệm vụ cách mạng phù hợp với yêu cầu lịch sử, phát huy sức mạnh toàn dân tộc thông qua việc tập hợp, đoàn kết lực lượng rộng rãi trong Mặt trận Việt Minh, chú trọng xây dựng lực lượng mọi mặt, xác định phương pháp cách mạng phù hợp và đặc biệt là chủ động đón thời cơ giành chính quyền. Thực tiễn cách mạng Tháng tám đã để lại nhiều bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, trong đó bài học lớn nhất cho cách mạng Việt Nam là luôn giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; linh hoạt, sáng tạo trong việc hoạch định đường lối; phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1998,t.2.Tr.2.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000, t.7, Tr.119
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, Tr.113
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tr.261-262.
[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tr. 18.
[6] ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, T.7,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tr.100
[7] Cách mạng Tháng Tám, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, Tr.74.