QUAN ĐIỂM DUY VẬT LỊCH SỬ VÀ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN
TRONG TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
ThS. Hoàng Ngọc Đạo
Trưởng khoa Xây dựng Đảng
Sự ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự
chín muồi của chủ nghĩa Mác. Giá trị, sức sống của Tuyên ngôn phản ánh giá trị
cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác. V.I.Lênin nhận xét giá trị của Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản như sau: “Cuốn
sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách: tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ
vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới
văn minh”.
1.
Vấn đề quan điểm duy vật lịch sử
Đây là một tác phẩm có tính chất cương lĩnh đầu tiên của
chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung, nó đánh dấu hoàn
toàn sự chín muồi của chủ nghĩa Mác. Nếu tác phẩm Hệ tư tưởng Đức đánh dấu bước ngoặt chủ nghĩa Mác từ dân chủ cách mạng
sang chủ nghĩa cộng sản, thì tác phẩm Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản đánh dấu sự chín muồi của chủ nghĩa Mác, là tác phẩm
hoàn chỉnh đầu tiên trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác, của thế
giới quan khoa học của Đảng Cộng sản. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là mẫu mực của
sự phê phán có tính chất cách mạng đối với chủ nghĩa tư bản, hệ tư tưởng tư sản
và những hình thức khác nhau của chủ nghĩa xã hội không tưởng.
Khác với những trào lưu xã hội chủ nghĩa khác, học
thuyết về chủ nghĩa xã hội được trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản dựa trên những căn cứ lý luận khoa học
và thực tiễn của phong trào công nhân. Trước hết, đó là sự vận dụng những quan
điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử - những quan điểm được xây dựng trong
quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác và đồng thời dựa trên sự tổng
kết những kinh nghiệm của phong trào công nhân thời bấy giờ.
Trong các tác phẩm Hệ
tư tưởng Đức; Bản thảo kinh tế triết học năm 1844; Sự khốn cùng của triết học;
những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản.... C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu
trên bình diện chỉnh thể thống nhất quá trình phát triển của lịch sử xã hội.
Từ đó, những quan điểm duy vật về lịch sử được xác lập, phát triển và trình bày
một cách thống nhất. Đồng thời, do dựa trên phương pháp tiếp cận nghiên cứu lịch
sử một cách khoa học như vậy nên các ông đã chỉ ra được cái cốt lõi của lịch sử
xã hội với tư cách là một chỉnh thể hữu cơ, khám phá ra những quy luật khách
quan của sự phát sinh, phát triển và tiến bộ xã hội. Trong Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã vận dụng những thành quả lý luận khoa học đó
để xây dựng cương lĩnh chính trị của đảng công nhân.
2.
Vấn đề chuyên chính vô sản
Tư tưởng về chuyên chính vô sản là tư tưởng quan trọng
nhất của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Trong tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã đề cập tư tưởng chuyên chính vô sản ở dạng đơn giản.
Thứ nhất,
về bản chất nhà nước nói chung, đó là công cụ thống trị giai cấp. Với giai cấp
vô sản, họ thiết lập sự thống trị của mình bằng cách lật đổ giai cấp tư sản nhà
nước tức là giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấp thống trị. C.Mác và
Ph.Ăngghen viết: “Quyền lực chính trị,
theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp một
giai cấp khác. Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản,
nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu
tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp thống trị
và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản
xuất ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng
giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự
thống trị của chính nó với tư cách là một giai cấp”.
Sau này V.I.Lênin đánh giá đó là một trong những tư tưởng đặc sắc nhất và trọng
yếu nhất của chủ nghĩa Mác về vấn đề nhà nước, chính là chuyên chính vô sản...
sau nữa ở đây chúng ta cũng tìm thấy một định nghĩa về nhà nước: “Nhà nước, tức là giai cấp vô sản được tổ chức
thành giai cấp thống trị”.
Thứ hai,
là về phương pháp giành chính quyền là bằng con đường bạo lực. Trong khi phác
ra những nét lớn của các giai đoạn phát triển của giai cấp vô sản, hai ông nhận
thấy “giai cấp vô sản thiết lập sự thống
trị của mình bằng cách dùng bạo lực lật đổ giai cấp tư sản”.
Ở một đoạn khác, C.Mác và Ph.Ăng ghen viết tiếp: “Tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai
cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”.
Trong tác phẩm đề cập đến nhiệm vụ chủ yếu của chuyên
chính vô sản là biện pháp tổ chức và xây dựng kinh tế. Nhưng ngay trong tác phẩm,
hai ông cũng chỉ rõ “trong những nước
khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều”.
Trong tác phẩm, hai ông đã đưa ra 10 biện pháp cụ thể đối với các nước tiên tiến
nhất, như tước đoạt sở hữu ruộng đất và
trao nộp địa tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước; áp dụng thuế lũy tiến cao; tập
trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của
nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn; giáo dục công cộng và
không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xóa bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các
công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất,.
Điều này bác bỏ những luận điệu xuyên tạc chuyên chính vô sản: cho chuyên
chính vô sản duy nhất là trấn áp, họ cố ý bỏ qua và coi nhẹ chức năng tổ chức
xây dựng. Chính quyền vô sản không chỉ có nghĩa là bạo lực và chủ yếu không phải
là bạo lực, chức năng cơ bản của chuyên chính vô sản là sáng tạo, xây dựng, là
chăm lo giáo dục công cộng, kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất,...
3.
Ý nghĩa lịch sử của bản Tuyên ngôn
Khi tổng kết ý nghĩa của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”,
V.I.Lê nin – người kế tục vĩ đại sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăng ghen đã viết: “Tác phẩm này trình bày một cách hết sức sáng
sủa vả rõ ràng thế giới quan mới, chủ nghĩa
phép biện chứng với tư cách là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất
về sự phát triển, lý luận đấu tranh giai cấp và vai trò cách mạng trong lịch sử
toàn thế giới của giai cấp vô sản, tức là giai cấp sáng tạo ra một xã hội mới,
xã hội cộng sản”.
Và Người có cơ sở đầy đủ để nói rằng “cuốn
sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách”.
- Về mặt lý luận: đây
là một trong những tác phẩm quan trọng nhất trong kho tàng lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin.
Việc ra đời của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu
sự hình thành cơ bản chủ nghĩa Mác với tất cả các bộ phận cấu thành nó: triết học,
kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Vận dụng những nhận thức mới
trong các lĩnh vực khoa học, đặc biệt là những tư tưởng cơ bản của quan điểm
duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư vào việc nghiên cứu xã hội loài
người, nhất là xã hội tư bản chủ nghĩa. Đồng thời tổng kết những kinh nghiệm mới
của phong trào công nhân, C.Mác và Ph. Ăng ghen đã trình bày những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, chỉ ra con đường cơ bản và tư tưởng sách lược
để thực hiện học thuyết vĩ đại đó.
Quan niệm duy vật về xã hội đã loại bỏ được hai khuyết
điểm căn bản của những lý luận lịch sử trước kia. Một là, những nguyên lý này
cùng lắm cũng chỉ xem xét những động cơ tư tưởng của hoạt động lịch sử của con
người, mà không nghiên cứu căn nguyên của những động cơ đó, không phát hiện ra
tính quy luật khách quan trong sự phát triển của hệ thống quan hệ xã hội và
không nhận thấy rằng, trình độ phát triển của sản xuất vật chất là nguồn gốc của
những quan hệ ấy. Hai là, những lý luận trước kia đã không nói đến chính ngay
hành động của quần chúng nhân dân, còn chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì lần đầu
tiên, đã giúp ta nghiên cứu một cách chính xác như khoa học lịch sử tự nhiên,
những điều kiện xã hội của đời sống và những biến đổi của những điều kiện ấy.
Cùng với thế giới quan duy vật triệt để, Tuyên ngôn đã
đem lại một cách nhìn biện chứng về lịch sử: một lịch sử với những thời kỳ cách
mạng và phản động, chiến tranh và hòa bình, ngưng trệ và tiến bộ, phát triển và
suy sụp; một lịch sử với những động lực, những xung đột đầy mâu thuẫn. Chính
trong tình trạng rối tung và hỗn độn bề
ngoài ấy, Tuyên ngôn là kim chỉ nam để tìm ra quy luật, là lý luận về đấu tranh
giai cấp. Lý luận này vừa làm sáng tỏ tính chất phức tạp của hệ thống các quan
hệ xã hội, vừa làm sáng tỏ những giai đoạn qua độ từ giai cấp này đến giai cấp
khác, từ quá khứ đến tương lai.
-
Về thực tiễn: Từ khi ra đời, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
đã ảnh hưởng lớn lao đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Công xã Pari (1871) là sự kiểm nghiệm
vĩ đại đối với Tuyên ngôn. Mặc dù chỉ tồn tại trong 72 ngày, nhưng công xã Pari
đã đánh dấu bước phát triển mới trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản.
Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại 1917, do chính đảng của
giai cấp vô sản lãnh đạo giành thắng lợi đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch
sử nhân loại.
Ở Việt Nam, sự ra đời của chính đảng của giai cấp công
nhân Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghãi Mác - Lênin với phong
trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Không thể nào có được những thắng lợi của cách mạng Việt
Nam trong 91 năm qua kể từ khi có Đảng lãnh đạo, không thể nào có được những
thành tựu trong 35 năm đổi mới đất nước, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không dựa
vào nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Tính khoa học đúng đắn và khoa học triệt để của Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản đã được kiểm nghiệm trong cách mạng Việt Nam. Trong quá trình vận
dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, vận dụng những quan điểm trong Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản nói riêng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã quán triệt tinh thần
sáng tạo và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của một nước thuộc địa, nửa
phong kiến, một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề để
thự hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tuyên ngôn là văn kiện mang tính cương lĩnh của phong
trào cộng sản, lần đầu tiên những cơ sở của chủ nghĩa Mác được trình bày dưới dạng
cô đọng nhất và ở tầm cao về nội dung cũng như hình thức, nó đã đánh dấu sự ra
đời của chủ nghĩa Mác sau một loạt công trình tìm tòi, khám phá và phát hiện
trước đó. Vượt qua bao thăng trầm, biến thiên của lịch sử, những giá trị của
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là bất diệt. Nó vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường
cho cách mạng Việt Nam hướng tới tương lai./.