KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG KỶ NGUYÊN SỐ
ThS. Đặng Thị Phương
Khoa Xây dựng Đảng
Tóm tắt:
Bài viết khẳng
định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tất yếu,
khách quan của cách mạng Việt Nam, được thực tiễn gần một thế kỷ chứng minh là
đúng đắn. Trên cơ sở phân tích bối cảnh kỷ nguyên số, bài viết chỉ rõ những
thách thức mới đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ đó, đề xuất
các giải pháp kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
và đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đáp ứng yêu cầu phát
triển trong tình hình mới.
Từ khóa: Độc lập dân tộc; Chủ nghĩa xã hội; Nền tảng tư tưởng của
Đảng; Kỷ nguyên số; Không gian mạng.
Trong tiến trình
lịch sử dân tộc Việt Nam, độc lập dân tộc là giá trị thiêng liêng, kết tinh từ
hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và
lãnh đạo cách mạng, mục tiêu độc lập dân tộc được xác lập trong mối quan hệ biện
chứng với chủ nghĩa xã hội, đánh dấu bước phát triển căn bản về nhận thức lý luận
và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đã chứng minh rằng chỉ có con đường
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm quyền làm chủ của
Nhân dân, thực hiện công bằng xã hội và phát triển bền vững đất nước, đồng thời
giữ vững thành quả độc lập dân tộc. Trong bối cảnh kỷ nguyên số hiện nay, cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, công tác bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng đang đứng trước nhiều thách thức mới, đặc biệt trên không gian mạng
với những biểu hiện xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục kiên định mục
tiêu chiến lược, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy và phương thức bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
1. Độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội - sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam.
Theo chủ nghĩa
Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử nhân
loại; đối với các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc phải gắn với giải phóng
giai cấp và giải phóng con người. C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đều khẳng định
mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, đồng thời đề cao
quyền bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc. Đặc biệt, V.I. Lênin
đã chỉ ra sự gắn bó mật thiết giữa phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa với cách mạng vô sản, qua đó tạo cơ sở lý luận cho việc lựa chọn con đường
phát triển gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định độc
lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Người, độc lập dân tộc là
điều kiện tiên quyết để xây dựng xã hội mới, còn chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo
đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc
cho nhân dân. Người nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc,
tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Từ đó, độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí
Minh, đồng thời là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối cách mạng Việt
Nam. Đây là sự lựa chọn phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, yêu cầu của
thực tiễn cách mạng và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam.
Ngay từ khi thành
lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt
Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là lựa chọn
mang tính lịch sử mà còn là một quan điểm có tính nhất quán, được bổ sung và
phát triển qua các giai đoạn cách mạng, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong
toàn bộ tiến trình phát triển của đất nước.
Trong giai đoạn
1930 - 1945, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được xác định là trọng tâm hàng đầu.
Tuy nhiên, ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã định hướng rõ con đường
phát triển lâu dài là tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa
xã hội. Điều đó thể hiện tư duy chiến lược đúng đắn: độc lập dân tộc là điều kiện
tiên quyết, còn chủ nghĩa xã hội là hướng phát triển tất yếu để bảo đảm quyền độc
lập đó được giữ vững và phát triển bền vững.
Bước sang giai đoạn
1945 - 1975, trong bối cảnh đất nước vừa kháng chiến vừa kiến quốc, mục tiêu độc
lập dân tộc tiếp tục giữ vai trò trung tâm, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở
vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt từ năm 1954, chủ trương kết hợp hai nhiệm
vụ chiến lược ở hai miền đất nước đã thể hiện rõ tính thống nhất giữa mục tiêu
dân tộc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa: miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã
hội, vừa là nền tảng phát triển lâu dài vừa là hậu phương lớn cho miền Nam đấu
tranh giải phóng dân tộc. Sự kết hợp này tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng
Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn năm 1975.
Trong giai đoạn
1975 - 1986, khi cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tiếp tục được khẳng định trong mối quan hệ
thống nhất. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quá trình tổ chức thực hiện còn bộc lộ
nhiều hạn chế, đặc biệt trong nhận thức về quy luật phát triển của thời kỳ quá
độ, dẫn đến những khó khăn về kinh tế - xã hội suốt nhiều năm. Điều này đặt ra
yêu cầu tất yếu phải đổi mới tư duy lý luận và phương thức phát triển để phù hợp
hơn với thực tiễn đất nước.
Với đường lối đổi
mới toàn diện tại Đại hội VI (1986) đã mở ra bước phát triển mới của đất nước.
Trong quá trình đó, Đảng tiếp tục khẳng định kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận
về mô hình phát triển của Việt Nam. Các kỳ Đại hội từ VII đến Đại hội XIV đều
nhất quán khẳng định: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ
nghĩa xã hội, và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
Hai mục tiêu này thống nhất trong một chỉnh thể, vừa mang tính kế thừa lịch sử,
vừa mang tính phát triển sáng tạo trong bối cảnh mới.
Thực tiễn lịch sử
đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống bền vững của lựa chọn này, đồng thời khẳng
định sự phù hợp với quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam.
Trong suốt hơn 86 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã giành nhiều
thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, mở đầu là Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc. Tiếp đó là
thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn
thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tạo tiền đề đưa cả nước
bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Bước vào thời kỳ đổi
mới từ năm 1986 đến nay, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với
quy mô GDP khoảng 4,9 tỷ USD năm 1986, đến năm 2025 quy mô GDP đã đạt trên 514
tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa
Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Cùng với tăng trưởng kinh tế,
các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội có bước phát triển rõ
rệt: tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn khoảng 1,3% vào năm 2025, hơn 95% dân số
tham gia bảo hiểm y tế, tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,8 năm. Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam đã
thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia, không ngừng mở rộng hợp tác
và nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế. Những
thành tựu to lớn đạt được trong gần một thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc
biệt trong 40 năm đổi mới, đã khẳng định tính đúng đắn của con đường độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là sự lựa chọn phù hợp với
quy luật phát triển của lịch sử Việt Nam mà còn là nền tảng bảo đảm cho sự phát
triển nhanh, bền vững và hạnh phúc của nhân dân trong giai đoạn hiện nay và
tương lai.Bottom of Form
2. Những thách thức đặt ra đối với bảo vệ nền tảng tư tưởng
của Đảng trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên số,
sự phát triển mạnh mẽ của Internet, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đã làm biến
đổi sâu sắc môi trường thông tin, tác động trực tiếp đến đời sống tư tưởng -
chính trị của xã hội. Không gian mạng vì thế không chỉ là phương tiện kết nối
và chia sẻ tri thức, mà còn trở thành một “mặt trận tư tưởng” đặc biệt, nơi các
quan điểm, giá trị và hệ tư tưởng đan xen, đấu tranh và tác động lẫn nhau một
cách thường xuyên, phức tạp.
Trong bối cảnh
đó, nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành trọng tâm bị các thế lực thù địch tập
trung xuyên tạc, phủ nhận. Chúng không chỉ công kích vai trò lãnh đạo của Đảng,
mà còn từng bước phủ định cơ sở lý luận của con đường phát triển đất nước,
thông qua việc cổ súy mô hình đa nguyên, đa đảng; xuyên tạc bản chất nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng nhất hội nhập quốc tế với từ bỏ mục
tiêu xã hội chủ nghĩa; đồng thời lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong thực
tiễn phát triển để quy chụp, phủ nhận tính ưu việt của chế độ.
Đặc biệt, các thủ
đoạn chống phá trong môi trường số ngày càng tinh vi và mang tính “công nghệ
hóa” cao. Không chỉ dừng ở việc lan truyền thông tin sai lệch, các đối tượng
còn sử dụng mạng xã hội như công cụ định hướng dư luận có chủ đích; ứng dụng
trí tuệ nhân tạo, công nghệ deepfake để tạo lập nội dung giả mạo; hình thành
các dòng thông tin và “dư luận ảo” nhằm tác động vào nhận thức xã hội; đồng thời
khai thác tính xuyên biên giới của không gian mạng để khuếch tán thông tin sai
trái trên diện rộng. Những tác động này không chỉ gây nhiễu loạn thông tin mà
còn trực tiếp làm suy giảm niềm tin, đặc biệt đối với thế hệ trẻ là lực lượng dễ
bị tác động bởi môi trường thông tin số nếu thiếu bản lĩnh chính trị và “hàng
rào miễn dịch” về tư tưởng.
Từ đó có thể thấy,
thách thức lớn nhất trong kỷ nguyên số không chỉ nằm ở sự gia tăng của thông
tin sai lệch, mà còn ở nguy cơ xâm thực vào nền tảng tư tưởng cốt lõi, đặc biệt
làm suy giảm sự thống nhất nhận thức về mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội.
3. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và
đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.
Đại hội XIV tiếp tục
khẳng định yêu cầu: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh đồng bộ, toàn diện công
cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng,… Đây không chỉ là sự kế thừa nhất quán tư duy lý luận của Đảng qua
các kỳ đại hội mà còn là định hướng có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh đất nước
bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ, thuận lợi và thách thức
đan xen. Trong điều kiện không gian mạng trở thành địa bàn cạnh tranh quyết liệt
về thông tin, tư tưởng và giá trị, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là cơ sở chính trị - tư tưởng
quan trọng nhất bảo đảm sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đây là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt
Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn trên cơ sở vận dụng sáng tạo
chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, đồng thời được thực tiễn
cách mạng và 40 năm đổi mới chứng minh là đúng đắn. Mục tiêu này không chỉ xác
định phương hướng phát triển của dân tộc mà còn là cơ sở định hướng nhận thức,
củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội xã hội. Chính vì vậy, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với giữ
vững nền tảng tư tưởng, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng và con đường phát
triển của đất nước.
Bên cạnh đó,
trong bối cảnh kỷ nguyên số, việc kiên định mục tiêu chiến lược này càng trở
nên cấp thiết bởi mọi hoạt động chống phá trên không gian mạng đều hướng đến việc
phủ nhận hoặc làm sai lệch nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua phủ nhận con đường
phát triển mà Đảng và Nhân dân đã lựa chọn. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng trước hết phải được bắt đầu từ việc kiên định và làm sâu sắc hơn nhận thức
về mục tiêu chiến lược này.
Tuy nhiên, kiên định không đồng nghĩa với bảo
thủ, trì trệ hay đóng kín trước những biến đổi của thời đại. Kiên định là giữ vững
mục tiêu, nguyên tắc và những giá trị cốt lõi, đồng thời không ngừng đổi mới tư
duy, phương thức lãnh đạo và phương thức tổ chức thực hiện để đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn. Trong kỷ nguyên số, yêu cầu đó càng trở nên rõ nét khi quá trình
chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
đang tạo ra những điều kiện mới cho phát triển đất nước cũng như những yêu cầu
mới đối với công tác tư tưởng. Do đó, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền
và chủ nghĩa xã hội phải gắn với đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng theo hướng chủ động, hiện đại và thích ứng với môi trường số.
Để hiện thực hóa
yêu cầu đó, trước hết cần tiếp tục xây dựng, bổ sung và hoàn thiện đường lối đổi
mới trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội;
đồng thời tiếp tục làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tiễn đổi mới
đất nước 40 năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu, luận giải một
cách khoa học, nhất là những nội dung liên quan đến mô hình xã hội xã hội chủ
nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trong điều kiện mới. Hoàn thiện lý luận
giúp đúc kết kinh nghiệm thực tiễn sinh động, biến đường lối thành hệ thống lập
luận vững chắc. Điều này không chỉ củng cố sức thuyết phục của tư tưởng mà còn
là “lá chắn” khoa học sắc bén để chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu xuyên
tạc, thù địch trong thời kỳ mới.
Thứ hai, cần đổi
mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng phù
hợp với đặc trưng của môi trường số. Nội dung tuyên truyền cần kết hợp chặt chẽ
giữa lý luận và thực tiễn, lấy những thành tựu của gần 40 năm đổi mới làm minh
chứng sinh động cho tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Đồng thời, cần đa dạng hóa phương thức truyền thông, khai thác hiệu
quả các nền tảng số, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới để lan tỏa
thông tin chính thống, nâng cao khả năng tiếp cận của các tầng lớp nhân dân, nhất
là thế hệ trẻ. Cùng với đó, cần chú trọng trang bị kỹ năng số, năng lực nhận diện
và kiểm chứng thông tin, góp phần hình thành “sức đề kháng” trước các thông tin
sai trái, thù địch trên không gian mạng.
Thứ ba, phát huy
vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện môi trường số, mỗi cán bộ, đảng viên không
chỉ là người tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là chủ thể
trực tiếp lan tỏa niềm tin chính trị và định hướng dư luận xã hội. Vì vậy, mỗi
cán bộ, đảng viên cần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, năng lực sử
dụng công nghệ số và ý thức trách nhiệm khi tham gia không gian mạng; chủ động
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, đồng thời nêu gương bằng hành động
thực tiễn, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Bên cạnh
đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan
tuyên giáo, báo chí, truyền thông, lực lượng chuyên trách về an ninh mạng và
các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác định hướng dư luận và đấu tranh
trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, trí tuệ
nhân tạo và dữ liệu lớn trong phát hiện, cảnh báo, xử lý thông tin xấu độc; tiếp
tục hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông
tin, tạo lập môi trường số lành mạnh, an toàn và nhân văn.
Kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa là yêu cầu có tính
nguyên tắc, vừa là điều kiện tiên quyết để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng
trong kỷ nguyên số. Chỉ trên cơ sở kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời
không ngừng đổi mới tư duy, hoàn thiện lý luận, nâng cao hiệu quả tuyên truyền,
phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên và ứng dụng mạnh mẽ thành tựu khoa học -
công nghệ, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới đáp ứng yêu cầu của
thời kỳ phát triển mới, góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của
Nhân dân và tạo động lực thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước phồn
vinh, hạnh phúc./.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.81.