KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ (27/7/1947 - 27/7/2026)!

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 08/07/2026]

KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG KỶ NGUYÊN SỐ

ThS. Đặng Thị Phương
Khoa Xây dựng Đảng

Tóm tắt:

Bài viết khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tất yếu, khách quan của cách mạng Việt Nam, được thực tiễn gần một thế kỷ chứng minh là đúng đắn. Trên cơ sở phân tích bối cảnh kỷ nguyên số, bài viết chỉ rõ những thách thức mới đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ đó, đề xuất các giải pháp kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

Từ khóa: Độc lập dân tộc; Chủ nghĩa xã hội; Nền tảng tư tưởng của Đảng; Kỷ nguyên số; Không gian mạng.

Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, độc lập dân tộc là giá trị thiêng liêng, kết tinh từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, mục tiêu độc lập dân tộc được xác lập trong mối quan hệ biện chứng với chủ nghĩa xã hội, đánh dấu bước phát triển căn bản về nhận thức lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đã chứng minh rằng chỉ có con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện công bằng xã hội và phát triển bền vững đất nước, đồng thời giữ vững thành quả độc lập dân tộc. Trong bối cảnh kỷ nguyên số hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước nhiều thách thức mới, đặc biệt trên không gian mạng với những biểu hiện xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy và phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

1. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại; đối với các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc phải gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đều khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, đồng thời đề cao quyền bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc. Đặc biệt, V.I. Lênin đã chỉ ra sự gắn bó mật thiết giữa phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản, qua đó tạo cơ sở lý luận cho việc lựa chọn con đường phát triển gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Người, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng xã hội mới, còn chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc và mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Người nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[1]. Từ đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho đường lối cách mạng Việt Nam. Đây là sự lựa chọn phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, yêu cầu của thực tiễn cách mạng và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam.

Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là lựa chọn mang tính lịch sử mà còn là một quan điểm có tính nhất quán, được bổ sung và phát triển qua các giai đoạn cách mạng, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình phát triển của đất nước.

Trong giai đoạn 1930 - 1945, nhiệm vụ giải phóng dân tộc được xác định là trọng tâm hàng đầu. Tuy nhiên, ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã định hướng rõ con đường phát triển lâu dài là tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Điều đó thể hiện tư duy chiến lược đúng đắn: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, còn chủ nghĩa xã hội là hướng phát triển tất yếu để bảo đảm quyền độc lập đó được giữ vững và phát triển bền vững.

Bước sang giai đoạn 1945 - 1975, trong bối cảnh đất nước vừa kháng chiến vừa kiến quốc, mục tiêu độc lập dân tộc tiếp tục giữ vai trò trung tâm, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt từ năm 1954, chủ trương kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền đất nước đã thể hiện rõ tính thống nhất giữa mục tiêu dân tộc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa: miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là nền tảng phát triển lâu dài vừa là hậu phương lớn cho miền Nam đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự kết hợp này tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn năm 1975.

Trong giai đoạn 1975 - 1986, khi cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tiếp tục được khẳng định trong mối quan hệ thống nhất. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quá trình tổ chức thực hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt trong nhận thức về quy luật phát triển của thời kỳ quá độ, dẫn đến những khó khăn về kinh tế - xã hội suốt nhiều năm. Điều này đặt ra yêu cầu tất yếu phải đổi mới tư duy lý luận và phương thức phát triển để phù hợp hơn với thực tiễn đất nước.

Với đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI (1986) đã mở ra bước phát triển mới của đất nước. Trong quá trình đó, Đảng tiếp tục khẳng định kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận về mô hình phát triển của Việt Nam. Các kỳ Đại hội từ VII đến Đại hội XIV đều nhất quán khẳng định: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Hai mục tiêu này thống nhất trong một chỉnh thể, vừa mang tính kế thừa lịch sử, vừa mang tính phát triển sáng tạo trong bối cảnh mới.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống bền vững của lựa chọn này, đồng thời khẳng định sự phù hợp với quy luật phát triển khách quan của cách mạng Việt Nam. Trong suốt hơn 86 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, mở đầu là Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc. Tiếp đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tạo tiền đề đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với quy mô GDP khoảng 4,9 tỷ USD năm 1986, đến năm 2025 quy mô GDP đã đạt trên 514 tỷ USD, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Cùng với tăng trưởng kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội có bước phát triển rõ rệt: tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn khoảng 1,3% vào năm 2025, hơn 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế, tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,8 năm. Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia, không ngừng mở rộng hợp tác và nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế. Những thành tựu to lớn đạt được trong gần một thế kỷ dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt trong 40 năm đổi mới, đã khẳng định tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là sự lựa chọn phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Việt Nam mà còn là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững và hạnh phúc của nhân dân trong giai đoạn hiện nay và tương lai.Bottom of Form

2. Những thách thức đặt ra đối với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số

Trong kỷ nguyên số, sự phát triển mạnh mẽ của Internet, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đã làm biến đổi sâu sắc môi trường thông tin, tác động trực tiếp đến đời sống tư tưởng - chính trị của xã hội. Không gian mạng vì thế không chỉ là phương tiện kết nối và chia sẻ tri thức, mà còn trở thành một “mặt trận tư tưởng” đặc biệt, nơi các quan điểm, giá trị và hệ tư tưởng đan xen, đấu tranh và tác động lẫn nhau một cách thường xuyên, phức tạp.

Trong bối cảnh đó, nền tảng tư tưởng của Đảng đã trở thành trọng tâm bị các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, phủ nhận. Chúng không chỉ công kích vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn từng bước phủ định cơ sở lý luận của con đường phát triển đất nước, thông qua việc cổ súy mô hình đa nguyên, đa đảng; xuyên tạc bản chất nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng nhất hội nhập quốc tế với từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa; đồng thời lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong thực tiễn phát triển để quy chụp, phủ nhận tính ưu việt của chế độ.

Đặc biệt, các thủ đoạn chống phá trong môi trường số ngày càng tinh vi và mang tính “công nghệ hóa” cao. Không chỉ dừng ở việc lan truyền thông tin sai lệch, các đối tượng còn sử dụng mạng xã hội như công cụ định hướng dư luận có chủ đích; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ deepfake để tạo lập nội dung giả mạo; hình thành các dòng thông tin và “dư luận ảo” nhằm tác động vào nhận thức xã hội; đồng thời khai thác tính xuyên biên giới của không gian mạng để khuếch tán thông tin sai trái trên diện rộng. Những tác động này không chỉ gây nhiễu loạn thông tin mà còn trực tiếp làm suy giảm niềm tin, đặc biệt đối với thế hệ trẻ là lực lượng dễ bị tác động bởi môi trường thông tin số nếu thiếu bản lĩnh chính trị và “hàng rào miễn dịch” về tư tưởng.

Từ đó có thể thấy, thách thức lớn nhất trong kỷ nguyên số không chỉ nằm ở sự gia tăng của thông tin sai lệch, mà còn ở nguy cơ xâm thực vào nền tảng tư tưởng cốt lõi, đặc biệt làm suy giảm sự thống nhất nhận thức về mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

3. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.

Đại hội XIV tiếp tục khẳng định yêu cầu: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh đồng bộ, toàn diện công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng,…[2] Đây không chỉ là sự kế thừa nhất quán tư duy lý luận của Đảng qua các kỳ đại hội mà còn là định hướng có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ, thuận lợi và thách thức đan xen. Trong điều kiện không gian mạng trở thành địa bàn cạnh tranh quyết liệt về thông tin, tư tưởng và giá trị, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là cơ sở chính trị - tư tưởng quan trọng nhất bảo đảm sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đây là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, đồng thời được thực tiễn cách mạng và 40 năm đổi mới chứng minh là đúng đắn. Mục tiêu này không chỉ xác định phương hướng phát triển của dân tộc mà còn là cơ sở định hướng nhận thức, củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội xã hội. Chính vì vậy, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với giữ vững nền tảng tư tưởng, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng và con đường phát triển của đất nước.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh kỷ nguyên số, việc kiên định mục tiêu chiến lược này càng trở nên cấp thiết bởi mọi hoạt động chống phá trên không gian mạng đều hướng đến việc phủ nhận hoặc làm sai lệch nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua phủ nhận con đường phát triển mà Đảng và Nhân dân đã lựa chọn. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết phải được bắt đầu từ việc kiên định và làm sâu sắc hơn nhận thức về mục tiêu chiến lược này.

Tuy nhiên, kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ, trì trệ hay đóng kín trước những biến đổi của thời đại. Kiên định là giữ vững mục tiêu, nguyên tắc và những giá trị cốt lõi, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo và phương thức tổ chức thực hiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Trong kỷ nguyên số, yêu cầu đó càng trở nên rõ nét khi quá trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đang tạo ra những điều kiện mới cho phát triển đất nước cũng như những yêu cầu mới đối với công tác tư tưởng. Do đó, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền và chủ nghĩa xã hội phải gắn với đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng chủ động, hiện đại và thích ứng với môi trường số.

Để hiện thực hóa yêu cầu đó, trước hết cần tiếp tục xây dựng, bổ sung và hoàn thiện đường lối đổi mới trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời tiếp tục làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tiễn đổi mới đất nước 40 năm qua đã đặt ra nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu, luận giải một cách khoa học, nhất là những nội dung liên quan đến mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trong điều kiện mới. Hoàn thiện lý luận giúp đúc kết kinh nghiệm thực tiễn sinh động, biến đường lối thành hệ thống lập luận vững chắc. Điều này không chỉ củng cố sức thuyết phục của tư tưởng mà còn là “lá chắn” khoa học sắc bén để chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, thù địch trong thời kỳ mới.

Thứ hai, cần đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng phù hợp với đặc trưng của môi trường số. Nội dung tuyên truyền cần kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, lấy những thành tựu của gần 40 năm đổi mới làm minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, cần đa dạng hóa phương thức truyền thông, khai thác hiệu quả các nền tảng số, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông mới để lan tỏa thông tin chính thống, nâng cao khả năng tiếp cận của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Cùng với đó, cần chú trọng trang bị kỹ năng số, năng lực nhận diện và kiểm chứng thông tin, góp phần hình thành “sức đề kháng” trước các thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Thứ ba, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện môi trường số, mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ là người tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là chủ thể trực tiếp lan tỏa niềm tin chính trị và định hướng dư luận xã hội. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, năng lực sử dụng công nghệ số và ý thức trách nhiệm khi tham gia không gian mạng; chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, đồng thời nêu gương bằng hành động thực tiễn, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và chế độ. Bên cạnh đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tuyên giáo, báo chí, truyền thông, lực lượng chuyên trách về an ninh mạng và các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác định hướng dư luận và đấu tranh trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phát hiện, cảnh báo, xử lý thông tin xấu độc; tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin, tạo lập môi trường số lành mạnh, an toàn và nhân văn.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc, vừa là điều kiện tiên quyết để giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số. Chỉ trên cơ sở kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy, hoàn thiện lý luận, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên và ứng dụng mạnh mẽ thành tựu khoa học - công nghệ, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, góp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo động lực thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

 



[1] “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, đăng trên báo cứu quốc số ra ngày 17/10/1945.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.81.