CHÚC MỪNG 101 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 – 21/6/2026) 

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 12/09/2025]

KHÁNH HÒA KẾ THỪA THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM 80 NĂM QUA VÀO TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN MỤC TIÊU NÂNG TẦM PHÁT TRIỂN, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HAI CON SỐ,
GIAI ĐOẠN 2025 – 2030

Nguyễn Thị Lệ Hằng
Phó Trưởng khoa Xây dựng Đảng

1. Chủ trương phát triển kinh tế Việt Nam qua 80 năm đổi mới

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ trung tâm, đóng vai trò then chốt trong chiến lược phát triển đất nước. 80 năm qua, từ một quốc gia bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam đã kiên cường vươn lên, đạt được những thành tựu phát triển kinh tế ấn tượng, từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Hành trình ấy được đánh dấu bằng những giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ, từ việc vượt qua khó khăn, xây dựng nền kinh tế độc lập đến đổi mới quản lý, hội nhập sâu rộng và đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Giai đoạn 1945 - 1985 là giai đoạn vượt qua khó khăn, giành độc lập và xây dựng nền kinh tế tự chủ. Đây là thời kỳ đầy thử thách và gian khổ đối với nền kinh tế Việt Nam. Ngay sau khi giành độc lập, đất nước phải đối mặt với hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh kéo dài, khiến cơ sở hạ tầng bị tàn phá nghiêm trọng, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, với quyết tâm cao và tinh thần tự lực tự cường, Việt Nam đã tập trung khôi phục sản xuất, từng bước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Giai đoạn 1986 - 2000 là giai đoạn đổi mới quản lý kinh tế và những bước chuyển mình ngoạn mục. Đại hội Đảng VI (năm 1986) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi quyết định từ bỏ cơ chế bao cấp và chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mở ra một nền kinh tế nhiều loại hình sở hữu, tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa và hội nhập quốc tế, thể hiện tư duy đổi mới trong chiến lược phát triển kinh tế. Một trong những thành công nổi bật nhất của giai đoạn này là việc kiểm soát và kiềm chế lạm phát phi mã, từ mức đỉnh 874,7% vào năm 1986 so với tháng 12 năm trước, xuống còn 167,1% vào năm 1990 và tiếp tục giảm xuống dưới 10% trong những năm cuối của thập niên 1990. Sự ổn định kinh tế vĩ mô này là tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững.

Giai đoạn 2001 - 2025 là giai đoạn phát triển nhanh, hội nhập sâu rộng và định hướng tương lai, việc chú trọng đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh tại Đại hội Đảng XI (năm 2011) và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo tại Đại hội Đảng XII (năm 2016) là bước đi đúng đắn thúc đẩy chuyển đổi số (CĐS) và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn mà Đại hội Đảng XIII (năm 2021) đề ra. Đây là thời kỳ Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cụ thể, từ 2001 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,12%. Giai đoạn 2011 - 2020, dù đối mặt với nhiều thách thức từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và dịch Covid-19, Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng GDP khá, bình quân đạt 6,21%. Cơ cấu kinh tế cũng có sự chuyển dịch rõ rệt, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong năm 2024 đã tăng hai bậc so với năm 2023, xếp hạng 44 trong 133 quốc gia, nền kinh tế liên tục trong 14 năm. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đã giảm xuống còn 2,3% năm 2024 (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025), một thành tựu được quốc tế công nhận. Thu nhập bình quân đầu người (PPP) của Việt Nam đã tăng từ khoảng 3.552 USD vào năm 2020 lên hơn 5.000 USD vào năm 2025, đưa Việt Nam từ nhóm nước thu nhập thấp lên nhóm nước thu nhập trung bình thấp và đang hướng tới nhóm thu nhập trung bình cao[1].

Để có được những thành tựu này là quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định chính sách về tăng trưởng và phát triển kinh tế, xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch, quản lý tài chính, ngân sách, nâng cao hiệu quả đầu tư công, đầu tư từ ngân sách nhà nước và những nỗ lực trong huy động các nguồn lực xã hội. Đặc biệt, với việc coi kinh tế tư nhân là một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững.

2. Kế thừa thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam qua 80 năm vào việc thực hiện mục tiêu nâng tầm phát triển, tăng trưởng kinh tế hai con số, giai đoạn 2025 – 2030 của tỉnh

Khánh Hòa là tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế, nhất là kinh tế biển, du lịch, công nghiệp, dịch vụ và nghề truyền thống…, nhất là sau sáp nhập giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận thành tỉnh Khánh Hòa. Kế thừa thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam trong 80 qua năm và trong 40 năm đổi mới, nhất là trong những thập niên gần đây, kinh tế của tỉnh phát triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước. Cơ cấu tỷ trọng kinh tế trong tổng thể kinh tế của tỉnh chuyển dịch mạnh mẽ tích cực, theo hướng tăng nhanh tỷ trọng kinh tế công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, du lịch, giảm dần tỷ trọng kinh tế nông- lâm nghiệp - thủy sản. Nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp, du lịch được hình thành và phát triển. Quy mô kinh tế tỉnh từng bước được tăng lên.

Trước khi sáp nhập, kinh tế Khánh Hòa (cũ) có bước phục hồi và tăng trưởng trở lại sau khi chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 với nhiều kết quả khả quan, làm nền tảng vững chắc cho các mục tiêu chiến lược dài hạn. GRDP của tỉnh giai đoạn 2021- 2024 tăng trưởng bình quân 8,1%/năm; trong đó GRDP năm 2024 tăng 10,16%, xếp thứ 7 cả nước. GRDP bình quân đầu người năm 2024 đạt 101,45 triệu đồng/người[2]. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch sang khu vực dịch vụ và công nghiệp- xây dựng, giảm tỷ trọng nông- lâm- thủy sản; đến năm 2024, khu vực nông- lâm- thủy sản đóng góp 10,7% GRDP theo ngành kinh tế và khu vực dịch vụ, công nghiệp- xây dựng đóng góp 89,3% GRDP theo ngành kinh tế. Kinh tế số có sự phát triển, đóng góp tăng trưởng kinh tế 7,42% trong năm 2023. Tổng vốn đầu tư phát triển đạt khoảng 277,5 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng 12,2%/năm. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển đạt 67,2% so với GRDP hàng năm của tỉnh. Tổng thu ngân sách giai đoạn 2021-2024 đạt 69.006 tỷ đồng, tăng bình quân 10,3%/năm. Tổng chi ngân sách giai đoạn 2022-2024 đạt 42.858 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 18,1%/năm. Tỷ trọng chi ngân sách đảm bảo mục tiêu theo Nghị quyết số 23/2021/QH15 của Quốc hội.

Song song với Khánh Hòa, Ninh Thuận (cũ) cũng có sự phát triển vượt bậc trong kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu kinh tế chung và trong từng ngành bước đầu chuyển dịch cơ bản đúng hướng; quy mô và cơ cấu đầu tư phát triển kinh tế- xã hội tăng nhanh và đã cải thiện một bước về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, tạo được một số năng lực mới cho trước mắt và những năm tiếp theo. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2024 đạt 4.248 tỷ đồng tăng 7,1% so cùng kỳ, vượt 6,2% kế hoạch. Tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển vào GRDP ước đạt 42,22%. Tỷ trọng đóng góp năng suất các nhân tố tổng hợp vào GRDP ước đạt 42,86%. Năng suất lao động ước tăng 8,1%, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,74%. Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp và thủy sản 26,8% , công nghiệp-xây dựng 41,7%, dịch vụ 31,5%; Tỷ trọng kinh tế số đóng góp vào GRDP khoảng 10,16%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 21.080 tỷ đồng, tăng 16% so cùng kỳ, đạt 92,05% kế hoạch. GRDP bình quân đầu người ước đạt 98,2 triệu đồng[3].

Cùng với phát triển kinh tế, xác định cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông là huyết mạch để phát triển kinh tế, tỉnh Khánh Hòa (mới) đã tập trung triển khai đồng bộ nhiều dự án quan trọng, nhất là các dự án giao thông trong tỉnh, liên tỉnh, liên vùng, là tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế thời gian tới như: Đường bộ cao tốc Vân Phong - Nha Trang, cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột giai đoạn 1, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 26B, đường giao thông từ Quốc lộ 27C đến đường tỉnh ĐT.656 tỉnh Khánh Hòa - kết nối với tỉnh Lâm Đồng ... Phối hợp với Trung ương đẩy nhanh tiến độ đầu tư đường sắt tốc độ cao đoạn TP. Hồ Chí Minh - Nha Trang; mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh; đầu tư đồng bộ, hoàn chỉnh các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ Khu kinh tế Vân Phong Tăng cường xúc tiến đầu tư, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án: Tuyến đường kết nối Cảng tổng hợp Cà Ná lên khu vực Nam Tây Nguyên; Cảng tổng hợp Cà Ná; các dự án vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, các dự án công nghiệp, năng lượng; chủ trương xây dựng tuyến đường kết nối từ sân bay Cam Ranh đến Ninh Thuận…

Công tác lập quy hoạch, hợp tác, liên kết vùng được tăng cường làm cơ sở để quản lý và thu hút các nguồn lực phát triển kinh tế cũng được tích cực đẩy nhanh tiến độ hoàn thành một số quy hoạch phân khu quan trọng để triển khai các dự án Khu đô thị mới: Cam Lâm, Tu Bông và Đầm Môn đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư; Dự án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp Cà Ná, thực hiện khởi công Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận…; đồng thời điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, làm cơ sở triển khai các dự án đầu tư và thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào tỉnh. Thu hút và sử dụng các nguồn lực được nâng cao, tận dụng tiềm năng để phát triển du lịch, phát triển kinh tế biển, cảng biển và trung tâm dịch vụ logistics, phát triển năng lượng điện mặt trời, điện gió để phát triển sản xuất đánh thức tiềm năng tỉnh Khánh Hòa.

Đạt được những kết quả đáng khích lệ trên là do thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể chế chính sách phát triển. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; thực hiện có hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế. Đổi mới cách làm và nêu cao vai trò của người đứng đầu đã giúp Khánh Hòa giữ vững nhịp độ tăng trưởng khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo niềm tin và là tiền đề quan trọng cho việc hoàn thành thắng lợi, toàn diện phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh những thành tựu to lớn, tỉnh Khánh Hòa vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cần khắc phục như tăng trưởng kinh tế nội tại và thu ngân sách của tỉnh chưa thật sự bền vững; các động lực tăng trưởng mới chưa được khơi thông; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp; công nghiệp chưa đóng vai trò trụ cột dẫn dắt tăng trưởng kinh tế bền vững, thiếu động lực tăng trưởng mới. Hoạt động khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo chưa có đột phá để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, phát triển doanh nghiệp còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế còn nhiều bất cập.

Để đạt mục tiêu đến năm 2030, Khánh Hòa sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương - là một cực tăng trưởng cao của cả nước; Nhân dân có mức sống cao, hiền hòa và hạnh phúc; tăng trưởng hằng năm liên tục đạt 2 con số. Tỉnh nằm trong 10 tỉnh, thành phố có thu ngân sách nội địa cao nhất; thu nhập bình quân đầu người cao nhất. Tỉnh Khánh Hòa cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tỉnh tiếp tục hoàn thiện thể chế và xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập. Ban hành chính sách lựa chọn, ưu tiên các ngành nghề, lĩnh vực đầu tư vào khu công nghiệp có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ, khả năng đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh. Các cơ chế, chính sách cần được cải cách đồng bộ, hiện đại và minh bạch, bảo đảm sự cạnh tranh, tính ổn định và hội nhập quốc tế phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Hai là, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, năng lượng; du lịch, dịch vụ; đô thị, xây dựng với các mục tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực. Đồng thời, tập trung đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công. Cùng với đó, khơi thông 3 điểm nghẽn, nút thắt: Hoàn thiện đồng bộ hạ tầng chiến lược; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển; tập trung đẩy nhanh tiến độ xử lý, tháo gỡ các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn.

Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển. Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác giáo dục đào tạo; thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, phân luồng gắn với nhu cầu xã hội; củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng, trường đại học trên địa bàn tỉnh.

Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công. Ưu tiên các dự án hạ tầng trọng điểm, có tác động lan tỏa cao đến phát triển kinh tế. Tăng cuờng hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng vốn đầu tư từ khu vực tư nhân và nguồn vốn FDI gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển bền vững. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và dự báo của các chính sách kinh tế để thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư. Tăng cường công tác giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua các chỉ tiêu như ICOR, TFP nhằm bảo đảm chất lượng và hiệu quả đầu tư trong dài hạn.

Năm là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút giới thiệu các chuyên gia nước ngoài, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là lĩnh vực khoa học công nghệ, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào làm việc tại tỉnh.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chỉ đạo Quốc gia (2021), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.

2. Cục Thống kê (các quý, tháng), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội.

3. Bộ Tài chính,  Thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam 80 năm qua và việc thực hiện mục tiêu chiến lược đến năm 2045 Việt Nam là nước phát triển, có thu nhập cao.

4. UBND tỉnh Khánh Hòa, Đề án sắp xếp tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận

5. Tỉnh ủy Khánh Hòa, Nghị quyết số 01-NQ/TU về tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2025 – 2030, ngày 14/7/2025.

6. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/80-nam-phat-trien-kinh-te-viet-nam-hanh-trinh-kien-tao-khat-vong-vuon-xa-119250803154342245.htm



 


Các tin khác