KHÁNH HÒA KẾ THỪA THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VIỆT NAM 80 NĂM QUA VÀO TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN MỤC TIÊU NÂNG TẦM PHÁT TRIỂN, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ HAI CON SỐ,
GIAI ĐOẠN 2025 – 2030
Nguyễn Thị Lệ Hằng
Phó Trưởng khoa Xây dựng Đảng
1. Chủ trương phát triển kinh tế Việt Nam qua 80 năm đổi
mới
Tăng trưởng và phát triển
kinh tế luôn được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ trung tâm, đóng vai trò
then chốt trong chiến lược phát triển đất nước. 80 năm qua, từ một quốc gia bị
tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, Việt Nam đã kiên cường vươn lên, đạt được những
thành tựu phát triển kinh tế ấn tượng, từng bước khẳng định vị thế trên trường
quốc tế. Hành trình ấy được đánh dấu bằng những giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ,
từ việc vượt qua khó khăn, xây dựng nền kinh tế độc lập đến đổi mới quản lý, hội
nhập sâu rộng và đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào
năm 2045.
Giai đoạn
1945 - 1985 là giai đoạn vượt qua khó khăn, giành độc lập và xây dựng nền kinh
tế tự chủ. Đây là thời kỳ đầy thử thách và gian khổ đối với nền kinh tế Việt
Nam. Ngay sau khi giành độc lập, đất nước phải đối mặt với hậu quả nặng nề của
các cuộc chiến tranh kéo dài, khiến cơ sở hạ tầng bị tàn phá nghiêm trọng, sản
xuất đình trệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, với quyết tâm cao
và tinh thần tự lực tự cường, Việt Nam đã tập trung khôi phục sản xuất, từng bước
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Giai đoạn 1986 - 2000 là
giai đoạn đổi mới quản lý kinh tế và những bước chuyển mình ngoạn mục. Đại hội
Đảng VI (năm 1986) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng khi quyết định từ bỏ
cơ chế bao cấp và chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Đây là bước đi mở ra một nền kinh tế nhiều loại hình sở hữu, tạo điều kiện phát
triển sản xuất hàng hóa và hội nhập quốc tế, thể hiện tư duy đổi mới trong chiến
lược phát triển kinh tế. Một trong những thành công nổi bật nhất của giai đoạn
này là việc kiểm soát và kiềm chế lạm phát phi mã, từ mức đỉnh 874,7% vào năm
1986 so với tháng 12 năm trước, xuống còn 167,1% vào năm 1990 và tiếp tục giảm
xuống dưới 10% trong những năm cuối của thập niên 1990. Sự ổn định kinh tế vĩ
mô này là tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Giai đoạn 2001 - 2025 là giai đoạn phát triển
nhanh, hội nhập sâu rộng và định hướng tương lai, việc chú trọng đổi mới
mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh tại Đại hội Đảng
XI (năm 2011) và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo tại Đại hội Đảng XII (năm 2016) là bước
đi đúng đắn thúc đẩy chuyển đổi số (CĐS) và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần
hoàn mà Đại hội Đảng XIII (năm 2021) đề ra. Đây là thời kỳ Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế theo
hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cụ thể, từ 2001 - 2010, tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,12%. Giai đoạn 2011 - 2020, dù đối mặt với nhiều
thách thức từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và dịch Covid-19, Việt Nam vẫn duy
trì được mức tăng trưởng GDP khá, bình quân đạt 6,21%. Cơ cấu kinh tế cũng có sự
chuyển dịch rõ rệt, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong năm 2024 đã tăng
hai bậc so với năm 2023, xếp hạng 44 trong 133 quốc gia, nền kinh tế liên tục
trong 14 năm. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đã giảm xuống còn 2,3% năm 2024 (theo chuẩn
nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025), một thành tựu được quốc tế công nhận. Thu nhập bình quân đầu người (PPP) của Việt Nam đã
tăng từ khoảng 3.552 USD vào năm 2020 lên hơn 5.000 USD vào năm 2025, đưa Việt
Nam từ nhóm nước thu nhập thấp lên nhóm nước thu nhập trung bình thấp và đang
hướng tới nhóm thu nhập trung bình cao.
Để có được những
thành tựu này là quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định
chính sách về tăng trưởng và phát triển kinh tế, xây dựng chiến lược, kế hoạch,
quy hoạch, quản lý tài chính, ngân sách, nâng cao hiệu quả đầu tư công, đầu tư
từ ngân sách nhà nước và những nỗ lực trong huy động các nguồn lực xã hội. Đặc
biệt, với việc coi kinh tế tư nhân là một nguồn lực quan trọng của nền kinh tế
quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao
năng suất lao động, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế
theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững.
2. Kế thừa thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam
qua 80 năm vào việc thực hiện mục tiêu nâng tầm
phát triển, tăng trưởng kinh tế hai con số, giai đoạn 2025 – 2030 của tỉnh
Khánh Hòa là tỉnh có nhiều tiềm năng, thế mạnh phát
triển kinh tế, nhất là kinh tế biển, du lịch, công nghiệp, dịch vụ
và nghề truyền thống…, nhất là sau sáp nhập giữa hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh
Thuận thành tỉnh Khánh Hòa. Kế thừa thành tựu
phát triển kinh tế Việt Nam trong 80 qua năm và trong 40 năm
đổi mới, nhất là trong những thập niên gần đây, kinh tế của tỉnh phát triển vượt bậc,
tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước. Cơ cấu tỷ trọng kinh tế
trong tổng thể kinh tế của tỉnh chuyển dịch mạnh mẽ tích cực, theo hướng tăng
nhanh tỷ trọng kinh tế công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, du lịch, giảm dần tỷ trọng
kinh tế nông- lâm nghiệp - thủy sản. Nhiều khu kinh tế, khu
công nghiệp, du lịch được hình thành và phát triển. Quy mô kinh tế tỉnh từng bước
được tăng lên.
Trước khi sáp nhập, kinh tế Khánh Hòa
(cũ) có bước phục hồi và tăng trưởng trở lại sau khi chịu ảnh hưởng nặng nề
của đại dịch Covid-19 với nhiều kết quả khả quan, làm nền tảng vững chắc cho
các mục tiêu chiến lược dài hạn. GRDP của tỉnh giai đoạn 2021- 2024 tăng trưởng
bình quân 8,1%/năm; trong đó GRDP năm 2024 tăng 10,16%, xếp thứ 7 cả nước. GRDP
bình quân đầu người năm 2024 đạt 101,45 triệu đồng/người.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch sang khu vực dịch vụ và công nghiệp- xây dựng,
giảm tỷ trọng nông- lâm- thủy sản; đến năm 2024, khu vực nông- lâm- thủy sản
đóng góp 10,7% GRDP theo ngành kinh tế và khu vực dịch vụ, công nghiệp- xây dựng
đóng góp 89,3% GRDP theo ngành kinh tế. Kinh tế số có sự phát triển, đóng
góp tăng trưởng kinh tế 7,42% trong năm 2023. Tổng vốn đầu tư phát triển đạt
khoảng 277,5 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng 12,2%/năm. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư
phát triển đạt 67,2% so với GRDP hàng năm của tỉnh. Tổng thu ngân sách giai đoạn
2021-2024 đạt 69.006 tỷ đồng, tăng bình quân 10,3%/năm. Tổng chi ngân sách giai
đoạn 2022-2024 đạt 42.858 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 18,1%/năm. Tỷ trọng
chi ngân sách đảm bảo mục tiêu theo Nghị quyết số 23/2021/QH15 của Quốc hội.
Song song với
Khánh Hòa, Ninh Thuận (cũ) cũng có sự phát triển vượt bậc trong kinh tế. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước, cơ cấu kinh tế chung và trong từng
ngành bước đầu chuyển dịch cơ bản đúng hướng; quy mô và cơ cấu đầu tư phát triển
kinh tế- xã hội tăng nhanh và đã cải thiện một bước về kết cấu hạ tầng phục vụ
sản xuất và đời sống, tạo được một số năng lực mới cho trước mắt và những năm
tiếp theo. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2024 đạt 4.248 tỷ đồng
tăng 7,1% so cùng kỳ, vượt 6,2% kế hoạch. Tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển
vào GRDP ước đạt 42,22%. Tỷ trọng đóng góp năng suất các nhân tố tổng hợp vào
GRDP ước đạt 42,86%. Năng suất lao động ước tăng 8,1%, tốc độ tăng trưởng GRDP
đạt 8,74%. Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp và thủy sản 26,8% , công nghiệp-xây
dựng 41,7%, dịch vụ 31,5%; Tỷ trọng kinh tế số đóng góp vào GRDP khoảng 10,16%.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 21.080 tỷ đồng, tăng 16% so cùng kỳ, đạt
92,05% kế hoạch. GRDP bình quân đầu người ước đạt 98,2 triệu đồng.
Cùng với phát triển kinh tế, xác định cơ sở hạ tầng nhất
là hạ tầng giao thông là huyết mạch để phát triển kinh tế, tỉnh Khánh Hòa (mới) đã tập trung triển
khai đồng bộ nhiều dự án quan trọng, nhất là các dự án giao thông trong tỉnh,
liên tỉnh, liên vùng, là tiền đề quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế thời
gian tới như: Đường bộ cao tốc Vân Phong - Nha Trang, cao tốc Khánh Hòa - Buôn
Ma Thuột giai đoạn 1, nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 26B, đường giao thông từ
Quốc lộ 27C đến đường tỉnh ĐT.656 tỉnh Khánh Hòa - kết nối với tỉnh Lâm Đồng
... Phối hợp với Trung ương đẩy nhanh tiến độ đầu tư đường sắt tốc độ cao đoạn
TP. Hồ Chí Minh - Nha Trang; mở rộng Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh; đầu tư đồng
bộ, hoàn chỉnh các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ Khu kinh tế Vân Phong… Tăng cường xúc tiến đầu tư, đẩy nhanh tiến độ triển
khai dự án: Tuyến đường kết nối Cảng tổng hợp Cà Ná lên khu vực Nam Tây Nguyên;
Cảng tổng hợp Cà Ná; các dự án vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, các dự án công
nghiệp, năng lượng; chủ trương xây dựng tuyến đường kết nối từ sân bay Cam Ranh
đến Ninh Thuận…
Công tác
lập quy hoạch, hợp tác, liên kết vùng được
tăng cường làm cơ sở để quản
lý và thu hút các nguồn lực phát triển kinh tế cũng được tích cực đẩy nhanh tiến độ hoàn thành một số quy
hoạch phân khu quan trọng để triển khai các dự án Khu đô thị
mới: Cam Lâm,
Tu Bông và Đầm Môn đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư; Dự
án Đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp Cà Ná, thực hiện
khởi công Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận…; đồng thời điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, làm
cơ sở triển khai các dự án đầu tư và thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào tỉnh. Thu
hút và sử dụng các nguồn lực được nâng cao, tận dụng tiềm năng để phát triển du lịch,
phát triển kinh tế biển, cảng biển và trung tâm dịch vụ logistics, phát triển
năng lượng điện mặt trời, điện gió để phát triển sản xuất đánh thức tiềm năng tỉnh
Khánh Hòa.
Đạt được những kết quả đáng khích lệ trên là do thời gian qua, Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, quyết liệt trong chỉ đạo, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện thể
chế chính sách phát triển. Tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản
xuất kinh doanh; thực hiện có hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh
tế. Đổi mới cách làm và nêu cao vai
trò của người đứng đầu đã giúp Khánh Hòa giữ vững nhịp độ tăng trưởng khá cao,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo niềm tin và là tiền đề
quan trọng cho việc hoàn thành thắng lợi, toàn diện phát triển kinh tế - xã hội.
Bên
cạnh những thành tựu to lớn, tỉnh
Khánh Hòa vẫn còn nhiều
khó khăn, thách thức cần khắc phục như tăng trưởng kinh tế nội tại và thu ngân sách của tỉnh chưa thật sự bền vững; các động lực tăng trưởng mới chưa được khơi thông; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp; công nghiệp
chưa đóng vai trò trụ cột dẫn dắt tăng trưởng kinh tế bền vững, thiếu động lực
tăng trưởng mới. Hoạt động khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo
chưa có đột phá để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, phát triển doanh nghiệp còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế còn nhiều bất cập.
Để đạt mục
tiêu đến năm 2030, Khánh Hòa sớm trở
thành thành phố trực thuộc Trung ương - là một cực tăng trưởng cao của cả nước;
Nhân dân có mức sống cao, hiền hòa và hạnh phúc; tăng trưởng hằng năm
liên tục đạt 2 con số. Tỉnh nằm trong 10 tỉnh, thành phố có thu ngân sách nội địa
cao nhất; thu nhập bình quân đầu người cao nhất. Tỉnh Khánh Hòa cần tập trung
thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:
Một là, tỉnh tiếp tục hoàn
thiện thể chế và xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập. Ban hành
chính sách lựa chọn, ưu tiên các ngành nghề, lĩnh vực đầu tư vào khu công nghiệp
có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường,
sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ, khả năng đóng góp tích cực vào
phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh. Các cơ chế,
chính sách cần được cải cách đồng bộ, hiện đại và minh bạch, bảo đảm sự cạnh
tranh, tính ổn định và hội nhập quốc tế phù hợp với
yêu cầu thực tiễn.
Hai là, cơ cấu lại nền
kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, năng lượng; du lịch, dịch
vụ; đô thị, xây dựng với các mục tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực. Đồng thời,
tập trung đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công. Cùng với đó, khơi thông 3 điểm nghẽn,
nút thắt: Hoàn thiện đồng bộ hạ tầng chiến lược; nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển; tập
trung đẩy nhanh tiến độ xử lý, tháo gỡ các công trình, dự án chậm tiến độ, tồn
đọng kéo dài, hiệu quả thấp, gây thất thoát, lãng phí lớn.
Ba là, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu
phát triển. Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác giáo dục đào tạo; thực hiện tốt
công tác hướng nghiệp, phân luồng gắn với nhu cầu xã hội; củng cố và nâng cao
chất lượng đào tạo của các trường cao đẳng, trường đại học trên địa bàn tỉnh.
Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu
quả đầu tư công. Ưu tiên các dự án hạ tầng trọng điểm, có tác động lan tỏa cao
đến phát triển kinh tế. Tăng cuờng hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng vốn đầu
tư từ khu vực tư nhân và nguồn vốn FDI gắn với chuyển giao công nghệ và phát
triển bền vững. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và dự báo của các chính
sách kinh tế để thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư. Tăng cường công tác giám sát,
đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua các chỉ tiêu như ICOR, TFP nhằm bảo đảm chất
lượng và hiệu quả đầu tư trong dài hạn.
Năm là, đẩy mạnh hợp tác
quốc tế, thu hút giới thiệu các chuyên gia nước ngoài, nguồn nhân lực chất lượng
cao, nhất là lĩnh vực khoa học công nghệ, viễn thông, công nghệ thông tin, công
nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào làm việc tại tỉnh.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chỉ
đạo Quốc gia (2021), Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2021 - 2030, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
2. Cục Thống
kê (các quý, tháng), Báo cáo tình hình
kinh tế - xã hội.
3. Bộ Tài
chính, Thành tựu phát triển kinh tế Việt Nam 80 năm qua và việc thực hiện mục
tiêu chiến lược đến năm 2045 Việt Nam là nước phát triển, có thu nhập cao.
4. UBND tỉnh Khánh Hòa, Đề án sắp xếp tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh
Thuận
5. Tỉnh ủy Khánh Hòa, Nghị quyết số 01-NQ/TU về tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2025 – 2030, ngày 14/7/2025.
6. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/80-nam-phat-trien-kinh-te-viet-nam-hanh-trinh-kien-tao-khat-vong-vuon-xa-119250803154342245.htm