CHÚC MỪNG 101 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 – 21/6/2026) 

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 16/12/2021]

HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CÁC MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

ThS. Tô Thị Hải Quyên
Giảng viên Khoa lý luận cơ sở

Các Mác là một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của mọi thời đại, một con người với tưởng của mình đã làm thay đổi thế giới. Ngày nay, nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, nhưng những tư tưởng trong học thuyết kinh tế của Mác vẫn còn ngự trị trong đời sống của con người nhiều hơn cái thời của ông, khi mà ông đã lao động cật lực để cho ra đời tác phẩm của mình.

          Vì sao học thuyết kinh tế của Mác có sức sống mãnh liệt như vậy? Vì nó là đúng đắn, là mẫu mực của chủ nghĩa cộng sản, ra đời từ trong toàn bộ tri thức của loài người. V.I.Lênin nhận định “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ, nó cung cấp cho mọi người một thế giới quan hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản. Nó là thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ thứ XIX…” (Các Mác và Chủ nghĩa Mác, NXB. Sự Thật, Hà Nội 1968, trang 60).

          Học thuyết kinh tế của Mác và Ăngghen sáng lập và có sự bổ sung, phát triển của V.I.Lênin. Sự xuất hiện của học thuyết kinh tế mácxít đánh dấu một giai đoạn mới trong sự phát triển của lịch sử các học thuyết kinh tế. Học thuyết kinh tế mácxít có những đặc điểm sau:

          Thứ nhất, là sự kế thừa những tinh hoa của nhân loại, đồng thời khắc phục những mặt hạn chế trên cơ sở đó bổ sung, phát triển, đưa học thuyết kinh tế mácxít lên đỉnh cao của nhân loại.

          Thứ hai, dựa trên những phương pháp luận khoa học, đó là phương pháp luận khoa học biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời còn sử dụng một loạt các phương pháp khoa học như: phương pháp trừu tượng hoá khoa học; phương pháp logic lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp…

          Thứ ba, là sự khái quát thực tiễn sinh động của chủ nghĩa tư bản

          Thứ tư, là nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Kinh tế chính trị mácxít phê phán chủ nghĩa tư bản trên lập trường của giai cấp vô sản, công khai bảo vệ giai cấp công nhân và giai cấp nông dân lao động. Kinh tế chính trị mácxít là một trong ba bộ phận chủ yếu của chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm thế giới quan và phương pháp luận. Nội dung của học thuyết kinh tế của Mác nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và diệt vong của các quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định trong lịch sử.

Trong học thuyết Mác, tính khoa học và tính cách mạng đã được kết hợp chặt chẽ và biện chứng đến mức chúng trở thành điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của nhau. Tính cách mạng được hiểu trước hết là nói đến tác dụng cải biến xã hội bằng thực tiễn. Tính khoa học là nói đến tính chân lý của tư tưởng, của lý luận. Học thuyết Mác đã kế thừa tất cả những tinh hoa của trí tuệ loài người trong lĩnh vực nhận thức tự nhiên và đời sống xã hội, đã đặt chủ nghĩa xã hội trên một thế giới quan khoa học, làm cho nó từ không tưởng trở thành khoa học. Tính khoa học chặt chẽ và rất cao đã làm cho chủ nghiã Mác đóng vai trò là lý luận cách mạng nhất. Như vậy, trong thực tiễn, C.Mác đã làm cho khoa học và cách mạng kết hợp với nhau.

          Thế kỉ XX là thời điểm chủ nghĩa tư bản bộc lộ đầy đủ nhất toàn bộ những mâu thuẫn nội tại mà C.Mác đã vạch rõ nguồn gốc, bản chất của chúng trong học thuyết của mình. Những vấn đề mang tính thời cuộc đang đặt ra với học thuyết kinh tế Mác như: vấn đề bóc lột; vấn đề đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay; vấn đề chủ nghĩa tư bản điều chỉnh quan hệ sản xuất… Ở đây, bài viết chỉ đề cập đến vấn đề bóc lột.

          Bóc lột là hành vi của người chủ sỡ hữu tư liệu sản xuất chiếm đoạt lao động thặng dư (và đôi khi cả một phần lao động tất yếu) của người sản xuất trực tiếp.

          Thực chất bóc lột thì giống nhau, đều là chiếm đoạt lao động thặng dư của người sản xuất trực tiếp mà không phải trả vật ngang giá, nhưng hình thức chiếm đoạt lao động thặng dư thì khác nhau.

          Bóc lột cũng có vai trò nhất định trong lịch sử. Khi xem xét quan hệ bóc lột không nên dựa vào tình cảm để xác định nó là tốt hay xấu mà phải xét vai trò lịch sử của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể. Thí dụ: đánh giá vai trò lịch sử của tệ cho vay nặng lãi, C.Mác chỉ rõ: Một mặt nó phá hoại sự giàu có và chế độ sỡ hữu của thời cổ đại và phong kiến. Mặt khác nó làm suy yếu và phá sản nền sản xuất tiểu nông và tiểu tư sản, tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất. Ở đây, tình trạng người sản xuất tách rời tư liệu sản xuất thích ứng với cuộc cách mạng thực sự trong phương thức sản xuất. Với ý nghĩa đó cho vay nặng lãi là một biện pháp của tích lũy nguyên thủy, vừa tập trung một khối lượng tư bản tiền tệ lớn vừa tạo ra những người lao động tự do bị tước hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động và tập hợp lại trong những công xưởng lớn. Nhưng trong chủ nghĩa tư bản thì cho vay nặng lãi không còn tác dụng đó nữa, vì tư liệu sản xuất đã tách khỏi người sản xuất rồi, nó trở thành lực cản sự phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa.

          Mức độ bóc lột thể hiện ở tương quan giữa lao động thặng dư và lao động cần thiết, nghĩa là người lao động làm bao nhiêu thời gian cho chủ sở hữu tư liệu sản xuất và bao nhiêu thời gian để nuôi sống mình.

          Khi phê phán luận điểm cho rằng lợi ích của tư bản và lợi ích của lao động chỉ là một, C.Mác luận giải rằng điều đó chỉ có ý nghĩa là tư bản và lao động làm thuê là hai mặt của cùng một quan hệ; nếu tư bản không thuê công nhân thì người công nhân sẽ chết, nếu tư bản không bóc lột lao động thì tư bản sẽ tiêu tan. Nhưng tiền công và lợi nhuận vận động ngược chiều nhau, nên giữa tư bản và lao động có mâu thuẫn đối kháng. Dù có cải thiện đời sống vật chất của người công nhân như thế nào đi nữa - cũng không xóa bỏ được sự đối lập lợi ích của công nhân và lợi ích của nhà tư bản.

          Mặt khác trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá cả hàng hóa sức lao động cũng như các hàng hóa khác còn chịu tác động của nhiều nhân tố: quan hệ cung cầu, giá trị của tiền cạnh tranh…nên tỉ suất giá trị thặng dư biến động khá phức tạp.

          Nghiên cứu vấn đề bóc lột rất có ý nghĩa đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là xóa bỏ chế độ người bóc lột người. Nhưng không thể thực hiện mục tiêu đó ngay lập tức được, mà phải vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Hiện nay, ở nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn có sự khác biệt giữa các ngành, giữa các vùng, giữa các đơn vị kinh tế trong cùng một ngành và trong cùng một vùng.  Do đó, tất yếu phải thừa nhận sự đa dạng hóa các loại hình, các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, trong đó có sỡ hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt vấn đề xóa ngay mọi hình thức bóc lột. Phải lấy tiêu thức thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động làm cơ sở để xử lý vấn đề bóc lột. Hình thức bóc lột nào cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất (như cho vay nặng lãi) thì phải có chính sách để xoá bỏ; hình thức bóc lột nào còn thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất (như trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân) thì được coi là tiến bộ; nhà nước phải đảm bảo quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của các nhà tư bản, khuyến khích họ đẩy mạnh kinh doanh theo pháp luật, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

          Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng của tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của nước ta. Trong những năm đổi mới, Đảng ta đã có sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn cách mạng Việt Nam trên một loạt các vấn đề lý luận mới như: về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tư duy lý luận của Đảng ngày càng phát triển và nhận thức sâu sắc hơn bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết Mác.

          Sự phát triển của thế giới và công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải có nhận thức đúng về bản chất, xu thế phát triển của thời đại và đặc điểm của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở này xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp. Có nhiều nhân tố mới đang và sẽ tác động đến sự vận động và phát triển của toàn thế giới và từng quốc gia trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI như: cách mạng khoa học công nghệ, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, bước quá độ của nhân loại từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức… Ở đây phải hiểu rằng chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết, một học thuyết đã hoàn thành hẳn, có sẵn ở đâu đấy, bất di bất dịch nào đó mà là một kim chỉ nam sống cho hành động, chính vì thế nên nó không thể không phản ánh sự biến đổi đặc biệt nhanh chóng của điều kiện xã hội. Do đó, trong quá trình cải cách, thực tiễn mới nảy sinh vấn đề mới, việc giải quyết vấn đề mới hình thành lý luận mới đòi hỏi chúng ta phải căn cứ vào thực tiễn đất nước. Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước đang được tiếp tục tiến hành trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới với nhiều thời cơ và thách thức trong những năm đầu thế kỷ XXI đòi hỏi chúng ta phải nâng cao hơn nữa nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên quyết đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch, sai trái nhằm xuyên tạc, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

          Cũng trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã nhận thức đầy đủ hơn về mới quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện, Đảng ta đã khẳng định sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dụng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng. Nền kinh tế thị trường không phải là cái gì đó của riêng chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp, gắn với những mục tiêu tốt đẹp nhưng nếu chủ nghĩa xã hội không coi nền kinh tế thị trường là cơ sở, công cụ thì những mục tiêu tốt đẹp đó cũng khó có thể trở thành hiện thực. Tuy nhiên, để đạt được những điều này, duy trì nền kinh tế tăng trưởng và phát bền vững thì tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà vận dụng, thực hiện sáng tạo, đạt hiệu quả.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Giáo trình kinh tế chính trị, Khoa kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. NXB. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2003

2. Các Mác và thời đại của chúng ta. NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1985.

3. Các Mác và Chủ nghĩa Mác. NXB Sự Thật, Hà Nội 1968, trang 60.

4. GS. TS Đỗ Thế Tùng: Nhận thức và ứng xử đúng quy luật với vấn đề bóc lột trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tạp chí cộng sản ngày 22-10-2019.