HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CÁC MÁC VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
ThS. Tô Thị Hải Quyên
Giảng viên Khoa lý luận cơ sở
Các
Mác là một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của mọi thời đại, một con người
với tưởng của mình đã làm thay đổi thế giới. Ngày nay, nhân loại đã bước sang thế
kỷ XXI, nhưng những tư tưởng trong học thuyết kinh tế của Mác vẫn còn ngự trị
trong đời sống của con người nhiều hơn cái thời của ông, khi mà ông đã lao động
cật lực để cho ra đời tác phẩm của mình.
Vì
sao học thuyết kinh tế của Mác có sức sống mãnh liệt như vậy? Vì nó là đúng
đắn, là mẫu mực của chủ nghĩa cộng sản, ra đời từ trong toàn bộ tri thức của
loài người. V.I.Lênin nhận định “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì
nó là học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ, nó cung
cấp cho mọi người một thế giới quan hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ một
sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của
tư sản. Nó là thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài
người đã tạo ra hồi thế kỷ thứ XIX…” (Các Mác và Chủ nghĩa Mác, NXB. Sự
Thật, Hà Nội 1968, trang 60).
Học
thuyết kinh tế của Mác và Ăngghen sáng lập và có sự bổ sung, phát triển của
V.I.Lênin. Sự xuất hiện của học thuyết kinh tế mácxít đánh dấu một giai đoạn
mới trong sự phát triển của lịch sử các học thuyết kinh tế. Học thuyết kinh tế mácxít
có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, là sự kế thừa những tinh hoa
của nhân loại, đồng thời khắc phục những mặt hạn chế trên cơ sở đó bổ sung,
phát triển, đưa học thuyết kinh tế mácxít lên đỉnh cao của nhân loại.
Thứ hai, dựa trên những phương pháp luận
khoa học, đó là phương pháp luận khoa học biện chứng và duy vật lịch sử, đồng
thời còn sử dụng một loạt các phương pháp khoa học như: phương pháp trừu tượng
hoá khoa học; phương pháp logic lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp…
Thứ ba, là sự khái quát thực tiễn sinh
động của chủ nghĩa tư bản
Thứ tư, là nội dung căn bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin. Kinh tế chính trị mácxít phê phán chủ nghĩa tư bản trên lập
trường của giai cấp vô sản, công khai bảo vệ giai cấp công nhân và giai cấp
nông dân lao động. Kinh tế chính trị mácxít là một trong ba bộ phận chủ yếu của
chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử làm thế giới quan và phương pháp luận. Nội dung của học thuyết kinh tế
của Mác nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và diệt vong của các quan hệ sản
xuất của một xã hội nhất định trong lịch sử.
Trong
học thuyết Mác, tính khoa học và tính cách mạng đã được kết hợp chặt chẽ và biện
chứng đến mức chúng trở thành điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của
nhau. Tính cách mạng được hiểu trước hết là nói đến tác dụng cải biến xã hội bằng
thực tiễn. Tính khoa học là nói đến tính chân lý của tư tưởng, của lý luận. Học
thuyết Mác đã kế thừa tất cả những tinh hoa của trí tuệ loài người trong lĩnh
vực nhận thức tự nhiên và đời sống xã hội, đã đặt chủ nghĩa xã hội trên một thế
giới quan khoa học, làm cho nó từ không tưởng trở thành khoa học. Tính khoa học
chặt chẽ và rất cao đã làm cho chủ nghiã Mác đóng vai trò là lý luận cách mạng
nhất. Như vậy, trong thực tiễn, C.Mác đã làm cho khoa học và cách mạng kết hợp
với nhau.
Thế
kỉ XX là thời điểm chủ nghĩa tư bản bộc lộ đầy đủ nhất toàn bộ những mâu thuẫn
nội tại mà C.Mác đã vạch rõ nguồn gốc, bản chất của chúng trong học thuyết của
mình. Những vấn đề mang tính thời cuộc đang đặt ra với học thuyết kinh tế Mác
như: vấn đề bóc lột; vấn đề đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay; vấn đề
chủ nghĩa tư bản điều chỉnh quan hệ sản xuất… Ở đây, bài viết chỉ đề cập đến vấn
đề bóc lột.
Bóc
lột là hành vi của người chủ sỡ hữu tư liệu sản xuất chiếm đoạt lao động thặng
dư (và đôi khi cả một phần lao động tất yếu) của người sản xuất trực tiếp.
Thực
chất bóc lột thì giống nhau, đều là chiếm đoạt lao động thặng dư của người sản
xuất trực tiếp mà không phải trả vật ngang giá, nhưng hình thức chiếm đoạt lao
động thặng dư thì khác nhau.
Bóc
lột cũng có vai trò nhất định trong lịch sử. Khi xem xét quan hệ bóc lột không
nên dựa vào tình cảm để xác định nó là tốt hay xấu mà phải xét vai trò lịch sử
của nó trong từng hoàn cảnh cụ thể. Thí dụ: đánh giá vai trò lịch sử của tệ cho
vay nặng lãi, C.Mác chỉ rõ: Một mặt nó phá hoại sự giàu có và chế độ sỡ hữu của
thời cổ đại và phong kiến. Mặt khác nó làm suy yếu và phá sản nền sản xuất tiểu
nông và tiểu tư sản, tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất. Ở đây, tình
trạng người sản xuất tách rời tư liệu sản xuất thích ứng với cuộc cách mạng
thực sự trong phương thức sản xuất. Với ý nghĩa đó cho vay nặng lãi là một biện
pháp của tích lũy nguyên thủy, vừa tập trung một khối lượng tư bản tiền tệ lớn
vừa tạo ra những người lao động tự do bị tước hết tư liệu sản xuất, buộc phải
bán sức lao động và tập hợp lại trong những công xưởng lớn. Nhưng trong chủ
nghĩa tư bản thì cho vay nặng lãi không còn tác dụng đó nữa, vì tư liệu sản xuất
đã tách khỏi người sản xuất rồi, nó trở thành lực cản sự phát triển sản xuất tư
bản chủ nghĩa.
Mức
độ bóc lột thể hiện ở tương quan giữa lao động thặng dư và lao động cần thiết,
nghĩa là người lao động làm bao nhiêu thời gian cho chủ sở hữu tư liệu sản xuất
và bao nhiêu thời gian để nuôi sống mình.
Khi
phê phán luận điểm cho rằng lợi ích của tư bản và lợi ích của lao động chỉ là
một, C.Mác luận giải rằng điều đó chỉ có ý nghĩa là tư bản và lao động làm thuê
là hai mặt của cùng một quan hệ; nếu tư bản không thuê công nhân thì người công
nhân sẽ chết, nếu tư bản không bóc lột lao động thì tư bản sẽ tiêu tan. Nhưng
tiền công và lợi nhuận vận động ngược chiều nhau, nên giữa tư bản và lao động
có mâu thuẫn đối kháng. Dù có cải thiện đời sống vật chất của người công nhân
như thế nào đi nữa - cũng không xóa bỏ được sự đối lập lợi ích của công nhân và
lợi ích của nhà tư bản.
Mặt
khác trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá cả hàng
hóa sức lao động cũng như các hàng hóa khác còn chịu tác động của nhiều nhân
tố: quan hệ cung cầu, giá trị của tiền cạnh tranh…nên tỉ suất giá trị thặng dư
biến động khá phức tạp.
Nghiên
cứu vấn đề bóc lột rất có ý nghĩa đối với việc phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần ở nước ta. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là xóa bỏ chế độ
người bóc lột người. Nhưng không thể thực hiện mục tiêu đó ngay lập tức được,
mà phải vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Hiện nay, ở nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn có sự khác
biệt giữa các ngành, giữa các vùng, giữa các đơn vị kinh tế trong cùng một
ngành và trong cùng một vùng. Do đó, tất
yếu phải thừa nhận sự đa dạng hóa các loại hình, các hình thức sở hữu về tư
liệu sản xuất, trong đó có sỡ hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên chưa thể đặt
vấn đề xóa ngay mọi hình thức bóc lột. Phải lấy tiêu thức thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động làm cơ sở để xử lý vấn đề bóc lột.
Hình thức bóc lột nào cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất (như cho vay
nặng lãi) thì phải có chính sách để xoá bỏ; hình thức bóc lột nào còn thúc đẩy
sự phát triển lực lượng sản xuất (như trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân)
thì được coi là tiến bộ; nhà nước phải đảm bảo quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp
của các nhà tư bản, khuyến khích họ đẩy mạnh kinh doanh theo pháp luật, vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Từ
thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng của tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành
động cách mạng của nước ta. Trong những năm đổi mới, Đảng ta đã có sự phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn cách
mạng Việt Nam trên một loạt các vấn đề lý luận mới như: về mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tư duy lý luận của Đảng ngày càng
phát triển và nhận thức sâu sắc hơn bản chất khoa học và cách mạng của học
thuyết Mác.
Sự
phát triển của thế giới và công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay đang đặt ra
nhiều vấn đề đòi hỏi phải có nhận thức đúng về bản chất, xu thế phát triển của
thời đại và đặc điểm của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở này xác định chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội phù hợp. Có nhiều nhân tố mới đang và sẽ tác động
đến sự vận động và phát triển của toàn thế giới và từng quốc gia trong những
thập niên đầu của thế kỷ XXI như: cách mạng khoa học công nghệ, quá trình toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, bước quá độ của nhân loại từ kinh tế công
nghiệp sang kinh tế tri thức… Ở đây phải hiểu rằng chủ nghĩa Mác không phải là
một giáo điều chết, một học thuyết đã hoàn thành hẳn, có sẵn ở đâu đấy, bất di
bất dịch nào đó mà là một kim chỉ nam sống cho hành động, chính vì thế nên nó
không thể không phản ánh sự biến đổi đặc biệt nhanh chóng của điều kiện xã hội.
Do đó, trong quá trình cải cách, thực tiễn mới nảy sinh vấn đề mới, việc giải
quyết vấn đề mới hình thành lý luận mới đòi hỏi chúng ta phải căn cứ vào thực
tiễn đất nước. Ngày nay, công cuộc đổi mới đất nước đang được tiếp tục tiến
hành trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới với nhiều thời cơ và thách
thức trong những năm đầu thế kỷ XXI đòi hỏi chúng ta phải nâng cao hơn nữa nhận
thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải bảo vệ, phát triển
và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải kiên
quyết đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch, sai trái nhằm xuyên tạc, bác
bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Cũng
trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã nhận thức đầy đủ hơn
về mới quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện, Đảng ta đã khẳng định sản xuất
hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền
văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dụng chủ
nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng. Nền kinh tế thị trường
không phải là cái gì đó của riêng chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội là tốt
đẹp, gắn với những mục tiêu tốt đẹp nhưng nếu chủ nghĩa xã hội không coi nền
kinh tế thị trường là cơ sở, công cụ thì những mục tiêu tốt đẹp đó cũng khó có
thể trở thành hiện thực. Tuy nhiên, để đạt được những điều này, duy trì nền
kinh tế tăng trưởng và phát bền vững thì tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của
mỗi nước mà vận dụng, thực hiện sáng tạo, đạt hiệu quả.
Tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình kinh tế chính trị, Khoa kinh tế, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền. NXB. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2003
2. Các Mác và thời đại của chúng ta. NXB. Sự Thật, Hà Nội, 1985.
3. Các Mác và Chủ nghĩa Mác. NXB Sự Thật, Hà Nội 1968,
trang 60.
4.
GS. TS Đỗ Thế Tùng: Nhận thức và ứng xử đúng quy luật với vấn đề bóc lột trong quá trình phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tạp chí cộng sản ngày
22-10-2019.