KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ (27/7/1947 - 27/7/2026)!

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 16/12/2021]

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XIII VÀO GIẢNG DẠY PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

ThS. Lê Thị Bích Hạnh
Giảng viên trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng đó thấm nhuần trong máu thịt người Đảng viên, lan tỏa đến đông đảo quần chúng nhân dân và đi vào thực tiễn thông qua Nghị quyết Đại hội các khóa.

Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc là sự kết tinh trí tuệ, ý chí và quyết tâm của toàn đảng, toàn dân, toàn quân, thể hiện sự thống nhất giữa “ý Đảng lòng dân”. Nghị quyết Đại hội XIII (2021) của Đảng đã đưa ra những thông điệp mạnh mẽ, những quyết sách đúng đắn, phù hợp để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Khi giảng dạy các môn lý luận chính trị tại các trường chính trị tỉnh thì các bài Kinh tế chính trị trong phần học Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là phần học liên quan nhiều đến cơ sở khoa học, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Để triển khai có hiệu quả và góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII cần quán triệt các quan điểm, nội dung mới khi giảng dạy phần học Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa như sau:

1) Bài 12: Nền sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa

Khi trình bày về lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa, cần giúp người học thấy rõ một trong 3 đột phá chiến lược theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIII: “Phát triển mạnh mẽ khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh” (ĐCSVN: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tr.221). Tăng năng suất lao động thông qua sự phát triển của khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo ra chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, điều này phù hợp với yêu cầu chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Khi trình bày về các điều kiện để một vật phẩm trở thành hàng hóa, trong trường hợp một số yếu tố khác hàng hóa thông thường. Ở điều kiện ngày nay cần bổ sung thêm: “Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao... Tổ chức cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp, văn minh, hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế” (sđd, tr.125). Quan điểm này được nhấn mạnh gắn với nội dung xây dụng cơ cấu kinh tế ngành theo hướng hiện đại, tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ trong phát triển kinh tế.

Khi trình bày về các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa cần nhấn mạnh “Tiếp tục đẩy mạnh mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất... sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức canh tranh của nền kinh tế... phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh” (Sđd tr.121). Chủ trương này phù hợp với yêu cầu mới đặt ra của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập và cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Khi luận giải về những ưu thế và hạn chế khi phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường, các chủ thể tham gia thị trường ngày nay gồm: Người sản xuất, người tiêu dùng, các chủ thể trung gian trên thị trường và Nhà nước cần bổ sung thêm: “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường” (Sđd, tr.133). Thông qua các tổ chức này nhằm góp phần khắc phục những bất cập của cơ chế thị trường, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội... và bảo vệ môi trường sinh thái.

2) Bài 13: Sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa

Lý luận hàng hóa sức lao động khẳng định sức lao động là nguồn gốc của giá trị thặng dư cho thấy giá trị thặng dư là kết quả của sự hao phí sức lao động trong sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị.

Khi phân tích 2 phạm trù: tư bản bất biến (c) với tư bản khả biến (v) khẳng định nguồn gốc của giá trị thặng dư là do sức lao động của công nhân tạo ra. Thực tiễn Đảng ta đã xác định việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo để tạo ra đội ngũ lao động, đặc biệt lao động chất lượng cao: “Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước” (Sđd, tr.221). Quan điểm này tiếp tục được coi là một trong Ba đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp quan trọng làm cho giá trị mới của xã hội tăng thêm nhanh chóng.

Khi trình bày về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch gắn với tăng năng suất lao động cá biệt và tăng năng suất lao động xã hội cần chỉ rõ quan điểm của Đảng: trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 Nghị quyết Đại hội XIII chỉ rõ: “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới” (sđd tr.115).

Định hướng này phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tạo động lực cho tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam bắt kịp, cùng tiến và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới.

Trong phần trình bày những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản gắn với các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói chung có thể vận dụng, nhất là đối với doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Vì vậy: “Doanh nghiệp nhà nước... hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế” (Sđd tr.129). Để khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước phải phát huy hiệu quả trong sản xuất kinh doanh cần phải nghiên cứu để vận dụng.

Phần các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường: Khi trình bày về lý luận địa tô chênh lệch II mà địa chủ thu được do chỗ cho thuê mảnh đất đã được đầu tư, thâm canh và làm tăng độ màu mỡ của đất. Phần này có ý nghĩa thực tiễn cấp bách, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về đất đai, nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” và “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách thúc đẩy tích tụ,tập trung đất nông nghiệp, khắc phục tình trạng manh mún, tạo điều kiện thu hút đầu tư, ứng dụng cơ giói hóa và công nghệ cao vào sản xuất nông

nghiệp...” (Sđd, tr.152, 153). Đây đang là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với Luật đất đai 2013 cần phải sửa đổi để huy động nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới.

Vận dụng quan điểm Đại hội XIII vào giảng dạy kinh tế chính trị cho thấy sự gắn kết giữa lý luận với thực tiễn. Đường lối, chính sách của Đảng đi vào thực tiễn cuộc sống giúp hoạt động thực tiễn hiệu quả hơn. Việc nhuần nhuyễn kết hợp trong suốt quá trình giảng dạy, giảng viên góp phần đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực tiễn, nâng cao nhận thức của người học, củng cố niềm tin vào đường lối chính sách phát triển kinh tế của Đảng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội – mục tiêu to lớn trên con đường phát triển mà đất nước Việt Nam ta luôn hướng tới.