1. Đặt vấn đề
“Khái niệm” là cấp độ đầu tiên của giai đoạn nhận thức lý tính. Toàn bộ sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan tạo ra những “hình ảnh” phản chiếu vào bộ óc người, lưu lại trong bộ óc người. Toàn bộ các “hình ảnh” đó - là các dạng thông tin- được bộ óc người khái quát hóa, trừu tượng hóa thành những khái niệm. Khi đó, khái niệm về một sự vật, hiện tượng hay quá trình là toàn bộ các thông tin về một lớp đối tượng sự vật, hiện tượng hay quá trình đó, được ghi nhận bởi bộ não thông qua quá trình nhận thức thế giới khách quan.
Khi đã có khái niệm về đối tượng(một lớp sự vật, hiện tượng hay quá trình cụ thể nào đó), thì “khái niệm” vẫn chỉ đang lưu lại, tồn tại trong bộ óc người. Để “khái niệm” có ý nghĩa nhận thức và ý nghĩa thực tiễn, con người phải định nghĩa khái niệm dưới dạng ngôn ngữ. Khi “khái niệm” được định nghĩa và định nghĩa đúng sẽ giúp con người trong vai trò là chủ thể nhận thức nhận biết lớp đối tượng sự vật, hiện tượng hay quá trình đó một cách rõ ràng, chân thực (nó là gì, nó khác các lớp đối tượng “không phải là nó” như thế nào); để cải tạo được thế giới khách quan, con người phải biết rõ bản chất thế giới khách quan bắt đầu từ định nghĩa đúng khái niệm các lớp đối tượng tồn tại trong thế giới khách quan đó.
Khi định nghĩa “khái niệm”, cần làm rõ tất cả các dấu hiệu cơ bản của khái niệm (là dấu hiệu mà lớp đối tượng tất yếu phải có, không thể thiếu), hợp thành một tập hợp thuộc tính của khái niệm (thường gọi là nội hàm của khái niệm). Để “khái niệm” được phản ánh chính xác, cần thêm một yếu tố nữa khi định nghĩa “khái niệm”:phải tập hợp được tất cả các đối tượng có trong dấu hiệu cơ bản/thuộc tính của khái niệm- nghĩa là, cần tìm đủ các đối tượng trong phạm vi tập hợp thỏa mãn nội hàm của khái niệm.Tập hợp các đối tượng thỏa mãn nội hàm của khái niệm gọi là ngoại diên của khái niệm. Như vậy, trong trường hợp tập hợp của ngoại diên khái niệm là tập hợp càng ít phần tử thì khái niệm càng trở nên đơn giản và dễ hiểu.
“Khái niệm” luôn là một nội dung quan trọng của bài giảng lý luận chính trị, trong đó có môn học Nghiệp vụ công tác đảng ở cơ sở. Thông qua làm rõ “khái niệm”, đối tượng nghiên cứu của bài giảng sẽ trở nên rõ ràng, giảng viên và học viên dễ dàng tiếp cận nội dung của chuyên đề; thậm chí, ở một số bài giảng, qua “khái niệm” lôgic bài giảng, nội dung cơ bản và trọng tâm của bài giảng cũng có thể được nhận biết.
Tuy nhiên, trong giáo trình Nghiệp vụ công tác đảng ở cơ sở - chương trình Trung cấp Lý luận chính trị-hành chính, ở một số chuyên đề bài giảng, một số nội dung trong chuyên đề bài giảng, một số khái niệm chưa được đề cập đến hoặc tuy có đề cập đến nhưng còn chung chung, chưa cụ thể, chưa thật rõ, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giảng dạy của giảng viên và tiếp thu bài học của học viên. Vì vậy, trong giai đoạn soạn viết giáo án, nghiên cứu xây dựng định nghĩa khái niệm ở những chuyên đề bài giảng, những nội dung bài giảng này có ý nghĩa chuyên môn rất lớn.
Có thể thấy rõ nhận định đã nêu ở trên qua một số chuyên đề bài giảng trong môn học Nghiệp vụ công tác đảng ở cơ sở như bài “Tổ chức cơ sở đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu tổ chức cơ sở đảng”, “Tổ chức sinh hoạt đảng bộ, chi bộ và đại hội đảng bộ, chi bộ ở cơ sở”,… Ở bài viết này, xin được giới hạn chỉ đi sâu phương pháp xây dựng định nghĩa khái niệm “sinh hoạt chi bộ” trong chuyên đề bài giảng “Tổ chức sinh hoạt đảng bộ, chi bộ và đại hội đảng bộ, chi bộ ở cơ sở”.
2. Xây dựng định nghĩa khái niệm “sinh hoạt chi bộ”
Trong bài giảng “Tổ chức sinh hoạt đảng bộ, chi bộ và đại hội đảng bộ, chi bộ ở cơ sở”, sinh hoạt chi bộ là một nội dung trọng tâm của chuyên đề, vì thế, khái niệm “sinh hoạt chi bộ” cần được trình bày là một phần quan trọng trong nội dung bài giảng. Do cách đặt vấn đề về đối tượng bài giảng và giải quyết nội dung theo hướng đặt vấn đề của giáo trình, khái niệm về “sinh hoạt chi bộ” được lồng ghép, kết hợp trong khái niệm “sinh hoạt đảng bộ, chi bộ”. Ở một góc nhìn khác, cũng dễ dàng nhận thấy bên cạnh những điểm thống nhất cũng có sự khác nhau giữa hai hình thức sinh hoạt đảng ở cơ sở này. Thí dụ, xem xét về mặt hình thức có sự khác biệt quy định thời gian sinh hoạt định kỳ, quy mô tổ chức; xem xét về mặt nội dung có sự khác biệt mối quan hệ đảng viên, nội dung sinh hoạt, quy trình tổ chức sinh hoạt,… Sự khác nhau này cũng đã được giáo trình thể hiện rõ ở bài “Nghiệp vụ tổ chức sinh hoạt đảng bộ, chi bộ”. Do đó, đưa ra khái niệm có tính lồng ghép, kết hợp sẽ hạn chế nhận thức đối tượng nghiên cứu cụ thể trong từng nội dung cụ thể của bài giảng. Đây là lý do cần xây dựng định nghĩa khái niệm riêng cho hoạt động sinh hoạt chi bộ.
Trên cơ sở nhận biết về hoạt động lãnh đạo của Đảng (cơ cấu, thể chế tổ chức của Đảng, nội dung và phương thức hoạt động của Đảng,…), nhận biết về tổ chức cơ sở đảng,…, khái niệm “sinh hoạt chi bộ” được hình thành và phát triển từ các khái niệm đã có.
- Những dấu hiệu (thuộc tính) cơ bản của sinh hoạt chi bộ
+“Sinh hoạt chi bộ” là một hình thức “sinh hoạt Đảng”
Với mục đích chính trị đặc biệt đã đặt ra, Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng và phát triển thành một tổ chức chính trị đặc biệt, một lực lượng chính trị đặc biệt. Biểu hiện rất rõ ở hệ thống tổ chức của Đảng hết sức chặt chẽ, có kỷ luật sắthình thành bởi hệ nguyên tắc là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Mục đích và tính chất chính trị của Đảng quy định nên nguyên tắc “tập trung dân chủ”, và nguyên tắc hoạt động “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” là cụ thể hóa nguyên tắc đó; từ đây hình thành nên quy định có tính nguyên tắc về phương thức hoạt động lãnh đạo cơ bản, phổ biến của Đảng là tổ chức Đảng luôn tồn tại hoạt động “sinh hoạt đảng” trong tất cả các tổ chức thành viên và toàn Đảng. “Sinh hoạt đảng” là sự gắn kết về trách nhiệm chính trị và tình đồng chí của người đảng viên nhằm thực hiện lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Tổ chức chi bộ
“Chi bộ” là một thành tố thuộc cấu trúc hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam; hơn nữa, tổ chức “chi bộ” còn là cấu trúc của hệ thống kỷ luật tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hoạt động lãnh đạo của chi bộ bao gồm một số yếu tố chủ yếu như sau:
(1) Tổ chức của chi bộ, bao gồm hai yếu tố: yếu tố “tĩnh” và yếu tố “động”.
Yếu tố tĩnh thể hiện cơ cấu tổ chức của chi bộ theo quy định Điều lệ Đảng có: Đảng viên (tất cả các đảng viên gồm cả các chi ủy viên hợp thành chi bộ); Chi ủy; Bí thư/Phó Bí thư.
Yếu tố động chỉ mối liên hệ giữa các thành phần của yếu tố tĩnh gồm có: Chi uỷ - chi bộ; Đảng viên – chi ủy viên/chi ủy – chi bộ; Bí thư – Phó Bí thư – chi ủy – đảng viên – chi bộ
Yếu tố động hình thành nên các hoạt động của tổ chức chi bộ: Hoạt động của chi ủy; Hoạt động của tập thể chi bộ; Hoạt động của mỗi đảng viên
Trong các hoạt động trên, dạng hoạt động sinh hoạt của tập thể chi ủy (chỉ gồm các chi ủy viên) và hoạt động sinh hoạt của tập thể chi bộ (gồm toàn thể tập thể đảng viên) đều thuộc về sinh hoạt đảng.
(2) Phạm vi/ nội dung lãnh đạo của chi bộ chỉ ra trách nhiệm, nhiệm vụ chi bộ phải thực hiện. Phạm vi/ nội dung lãnh đạo của chi bộ chính là chức năng, nhiệm vụ của chi bộ, thể hiện thẩm quyền, trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ được quy định trong Điều lệ Đảng.
Do hoạt động lãnh đạo của Đảng theo quy định “tập thể lãnh đạo” nên nhất định nội dung lãnh đạo của chi bộ phải thể hiện bằng quyết nghị tập thể được thông qua bằng hình thức sinh hoạt đảng, ở trường hợp cụ thể này chỉ có thể là sinh hoạt của toàn bộ đảng viên trong chi bộ (không phải là sinh hoạt chi ủy).
(3) Phương thức lãnh đạo của chi bộ
Phương thức lãnh đạo của chi bộ là cách thức lãnh đạo của chi bộ, bằng cách nào chi bộ có thể chuyển nội dung lãnh đạo (quyết nghị của tập thể đảng viên) đến đối tượng lãnh đạo (của chi bộ).
Với chi bộ, phương thức lãnh đạo của chi bộ có nhiều phương pháp, hình thức khác nhau. Song, do là tổ chức đơn vị của Đảng, là hình thức tổ chức lãnh đạo duy nhất trong hệ thống tổ chức thể hiện rõ tính kỷ luật của Đảng mà mỗi đảng viên được quyền trực tiếp tham gia vào hoạt động lãnh đạo tập thể của Đảng. Vì thế, sinh hoạt của toàn thể đảng viên chi bộ trở thành một phương thức lãnh đạo cơ bản, chủ yếu, nổi bật của chi bộ. Thực vậy, các công tác chủ yếu, nổi bật của chi bộ như: đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cơ sở; làm cầu nối giữ vững mối liên hệ mật thiết, thường xuyên giữa Đảng và quần chúng nhân dân;xây dựng, quản lý, rèn luyện đảng viên, cán bộ đều chỉ có thể triển khai thực hiện từ quyết nghị thống nhất thông qua sinh hoạt của tập thể toàn bộ đảng viên trong chi bộ.
Như vậy, các dấu hiệu cơ bản của khái niệm “sinh hoạt chi bộ” được lọc ra từ phân tích trên bao gồm:
a) Là hoạt động thuộc về “sinh hoạt đảng” được tổ chức ở cấp tổ chức chi bộ;
b) Đây là sinh hoạt tập thể bao gồm tất cả đảng viên trong chi bộ;
c) Là một phương thức hoạt động, phương thức lãnh đạo cơ bản, chủ yếu của chi bộ;
d) Các nội dung lãnh đạo của chi bộ chỉ duy nhất được hình thành từ hoạt động sinh hoạt đảng này. Hoạt động mang tính tập thể “sinh hoạt đảng” phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Nhận biết tập hợp các đối tượng có dấu hiệu nêu trong nội hàm
+ Đối với dấu hiệu a và b:“Sinh hoạt đảng” là hoạt động diễn ra trực tiếp và thường xuyên nhất là ở các chi bộ, ở hội nghị đảng bộ các cấp, ở đại hội chi bộ, đại hội đảng bộ các cấp cho tới Đại hội đại biểu toàn quốc, ở hội nghị thường kỳ hay bất thường của cấp ủy các cấp cho tới Ban Chấp hành Trung ương. Sinh hoạt đảng ở cấp chi bộ có hai hình thức chủ yếu: sinh hoạt chi ủy và sinh hoạt toàn thể đảng viên chi bộ (đại hội chi bộ là một hình thức sinh hoạt đặc biệt của toàn thể đảng viên chi bộ).
+ Đối với dấu hiệu c: Ở cấp tổ chức chi bộ, phương thức lãnh đạo của chi bộ bao gồm nhiều cách thức khác nhau, nhưng hầu như tất cả các phương pháp, hình thức trong hoạt động lãnh đạo của chi bộ đều được thực hiện thông qua sinh hoạt của tập thể đảng viên chi bộ. Thí dụ: công tác tư tưởng, công tác kiểm tra, công tác đảng viên, công tác cán bộ, công tác dân vận, xây dựng các quy định, quy trình công tác, v.v…Mặt khác, các phương pháp, hình thức đó vừa là một trong những phương thức lãnh đạo của chi bộ, vừa trở thành nội dung của sinh hoạt chi bộ. Mọi phương pháp, hình thức lãnh đạo khác của chi bộ chỉ có giá trị khi và chỉ khi đạt được sự thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ qua hội nghị sinh hoạt của toàn thể đảng viên trong chi bộ. Sinh hoạt của toàn thể đảng viên chi bộ vì thế trở thành một phương thức lãnh đạo cơ bản, chủ yếu của chi bộ. Ngay cả hoạt động của các đảng viên cũng là hoạt động nối dài của sinh hoạt tập thể toàn bộ đảng viên chi bộ; đảng viên nói và làm theo quyết nghị của chi bộ. Đảng viên nhân danh chi bộ thực hiện công tác của chi bộ.
+ Đối với dấu hiệu d: Trong mối quan hệ “nội dung và hình thức” thì có thể xem sinh hoạt chi bộ là cái “hình thức” để chứa đựng cái “nội dung” là các công tác của chi bộ cần thực hiện. Không thông qua sinh hoạt tập thể chi bộ, không thể hình thành các công tác của chi bộ. Do đó, sinh hoạt chi bộ là nhằm thực hiện các nội dung lãnh đạo của chi bộ, tức là bao gồm toàn bộ chức năng, nhiệm vụ của chi bộ đã được quy định trong Điều lệ Đảng.
- Từ những phân tích trên, định nghĩa khái niệm “sinh hoạt chi bộ” có thể diễn đạt như sau: Sinh hoạt chi bộ là một hình thức sinh hoạt đảng bao gồm toàn thể đảng viên của chi bộ, phản ánh một phương thức hoạt động, một phương thức lãnh đạo cơ bản, chủ yếu, nổi bật của chi bộ, tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Đảng để thỏa mãn chức năng, nhiệm vụ của chi bộ nhằm hướng đến hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của chi bộ trong từng giai đoạn nhất định.
Định nghĩa khái niệm “sinh hoạt chi bộ” vừa trình bày không phủ nhận hoặc hạn chế những quan điểm định nghĩa khái niệm “sinh hoạt chi bộ” khác. Một khái niệm có thể được định nghĩa bằng nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau, theo những góc nhìn khác nhau, nhận thức khác nhau, từ những tiêu chí khác nhau (đơn cử khái niệm về văn hóa có hơn 200 định nghĩa). Tương tự, định nghĩa khái niệm về các lớp đối tượng, thí dụ về con người, lao động, chính trị, giai cấp, dân chủ, chuyên chính vô sản, đảng chính trị cầm quyền, phương thức cầm quyền, văn hóa chính trị, văn hóa Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v… cũng rất đa dạng, phong phú.
3. Kết luận
Giáo trình là tài liệu công cụ cơ bản để giảng viên nghiên cứu, xây dựng đề cương cho giáo án bài giảng. Tuy nhiên, không vì thế đánh mất sự sáng tạo của giảng viên khi tiếp cận giáo trình vì sự đa dạng của đối tượng học viên, đặc điểm địa phương, tính thực tiễn và cả sự phát triển không ngừng của lý luận. Giáo án của người giảng viên phải luôn là sự phát triển và sáng tạo trên cơ sở nội dung cơ bản của giáo trình. Xây dựng định nghĩa khái niệm trong mỗi chuyên đề cụ thể trong quá trình nghiên cứu bài giảng, soạn giáo án là một cách vươn lên làm chủ giáo trình, làm chủ giáo án và làm chủ bài giảng trên giảng đường của người giảng viên.
Không chỉ riêng về khái niệm, còn rất nhiều khía cạnh khác thuộc về nội dung, về phương pháp tiếp tục đòi hỏi giảng viên ngành lý luận chính trị cần nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi, từ đó, từng bước nâng cao năng lực chuyên môn cho bản thân./.