CHÚC MỪNG 101 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 – 21/6/2026) 

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 19/12/2021]

ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG CỤ THỂ HÓA CHỦ NGHĨA DUY VẬT

LỊCH SỬ TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

ThS.Bùi Nguyễn Hồng Quyên
GV Khoa Lý luận cơ sở

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là nội dung đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nội dung này cho thấy những mối quan hệ biện chứng trong các lĩnh vực cơ bản nhất và những quy luật nền tảng chi phối sự phát triển xã hội. Nắm được các nội dung của chủ nghĩa duy lịch sử giúp chúng ta hiểu rõ quy luật phát triển của xã hội với các vấn đề cơ bản như: hình thái kinh tế- xã hội, giai cấp và dân tộc, nhà nước và cách mạng, tồn tại xã hội và ý thức xã hội, triết học về con người. Từ những quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta đã kế thừa, cụ thể hóa và triển khai vận dụng vào quá trình lãnh đạo, xây dựng phát triển đất nước, Những vấn đề này được đề cập rõ nét trong  Văn kiện Đại hội XIII, cụ thể như sau:

1.     Về xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:

Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất lý giải nguyên nhân sâu xa về sự thay đổi của xã hội. C.Mác đã từng chỉ rõ: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có”[1]. Đây là quy luật cơ bản của mọi nền kinh tế, việc nhận thức đúng và vận dụng một cách sáng tạo quy luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Trong nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn,… cần chú trọng hơn đến: bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp”[2] .

Vận dụng quy luật này trong thực tế cho thấy, Đảng ta ngày càng hết sức coi trọng việc phát triển đồng đều quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, tạo nên sự thống nhất, tương tác hỗ trợ nhau.

Về phát triển lực lượng sản xuất, trong đó phát triển nguồn nhân lực mà nòng cốt chính là người lao động - yếu tố hợp thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, V.I.Lênin từng nói, công nhân, người lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại. Đảng ta xác định, hiện nay người lao động nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng là một trong những đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và cho cả những năm tiếp theo, vì vậy cần phải “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”[3].

Trong lao động, con người tích cực, chủ động, sáng tạo và các ngành khoa học ra đời cũng là sản phẩm của tư duy con người, với hình thức cao, hoàn thiện, cụ thể hóa nhận thức thành hiện thực, khoa học quay trở lại hỗ trợ và dần thay thế con người trong lao động sản xuất. Đại hội XIII xác định vai trò của khoa học trong phát triển lực lượng sản xuất là: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”[4], cần thiết phải “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”[5].

Như vậy trong nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong tình hình mới, Đảng ta  thực sự coi yếu tố người lao động, khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, có sự điều chỉnh, vận dụng hợp lý, thích ứng kịp thời và đầu tư thực chất, phát triển có chiều sâu vào vấn đề này.

Về xây dựng quan hệ sản xuất mới – quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, Đảng chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, đặc biệt là phù hợp với trình độ, năng lực của người lao động nước ta hiện nay. Đại hội lần thứ XII đã chỉ rõ: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, có nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật…”[6]. Đến Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế: trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”.[7] Phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng các hình thức sở hữu cho thấy đó là hình thức phù hợp để phát huy và tận dụng lợi thế về mặt con người cũng như khoa học kỹ thuật khi trình độ lao động và công nghệ của đất nước còn rất nhiều vấn đề cần phải cải tạo và hoàn thiện.

Sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất trong thời kỳ đổi mới đã góp phần làm cho nền kinh tế nước ta có những bước phát triển vượt bậc. Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo đà cho sự phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trở thành nước có thu nhập trung bình.

2.     Về quan hệ giữa chính trị và kinh tế

Trong Chủ nghĩa duy vật lịch sử đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Thực chất đây là mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị trong đó kinh tế là nền tảng quyết định các quan hệ chính trị. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế nhưng có tính độc lập tương đối nên chính trị tác động trở lại kinh tế.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Đảng ta chủ trương xây dựng kinh tế gắn liền với chính trị, lấy kinh tế làm động lực then chốt thúc đẩy và hoàn thiện thể chế chính trị.

Đại hội XII chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị”[8], do đó để thúc đẩy mạnh hơn quá trình này, trước hết cần tập trung đổi mới thể chế phát triển cả kinh tế và chính trị. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, nhiều chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện, về kinh tế là 3 đột phát chiến lược; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới. Đại hội XIII vẫn khẳng định “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”[9]. Và yêu cầu “Đổi mới mạnh mẽ hơn hơn phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng chuyển giao những công việc Nhà nước không nhất thiết phải làm cho các tổ chức xã hội”[10].

Đại hội XIII đánh giá: “tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện”[11] đồng thời “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”[12]. Cơ cấu lại nền kinh tế, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế. Cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư, nhất là đầu tư công. Cơ cấu lại, phát triển lành mạnh các loại thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất để huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”[13]. Đồng thời có điểm mới là cơ cấu lại kinh tế vùng, đổi mới thể chế liên kết giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng, phát huy vai trò các vùng kinh tế động lực, quan tâm phát triển các vùng còn khó khăn, thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng.

Về chính trị: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”[14] nhằm tạo bước tiến và thành quả rõ rệt trong chống quan liêu, tham nhũng. Đồng thời, đẩy mạnh việc tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng và đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Đảng ta xác định, nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo... Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”[15].

Trong đổi mới, nước ta vận dụng linh hoạt giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, tiến hành đổi mới một cách đồng bộ với những bước đi phù hợp giữa hai yếu tố này, nhờ vậy đạt được nhiều thành tựu to lớn: chủ nghĩa xã hội được giữ vững, kinh tế phát triển, tiến bộ xã hội biểu hiện rõ rệt.

3.     Về vấn đề giai cấp trong giai đoạn hiện nay

 Chủ nghĩa duy vật lịch sử đề cập đến giai cấp và đấu tranh giai cấp; đấu tranh giai cấp góp phần cải tạo xã hội, xóa bỏ cái cũ cái lạc hậu, bảo thủ, tạo cơ sở cho cái mới, cái tiến bộ nảy sinh và phát triển. Đấu tranh giai cấp cũng góp phần cải tạo giai cấp cách mạng, để trở thành giai cấp có đủ năng lực lãnh đạo đối với toàn xã hội. Thông qua đấu tranh giai cấp mà các lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật đạo đức… được phát triển phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.

Kế thừa những tư tưởng trên, Đại hội XIII, Đảng ta bàn nhiều về cơ cấu giai cấp của nước ta hiện nay bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân, thế hệ trẻ, tầng lớp phụ nữ, cựu chiến binh, công an, người cao tuổi..., đồng thời đưa ra nhiệm vụ, phương hướng để phát triển từng giai cấp, tầng lớp, đội ngũ riêng. Đối với giai cấp công nhân cần phải: “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”[16]. Trong giải quyết vấn đề giai cấp ở Việt Nam hiện nay, Đại hội XIII nhấn mạnh: “Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”[17].

Cùng với chăm lo đời sống cho giai cấp, Đảng cũng chỉ ra những biểu hiện của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là thời kỳ đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái cách mạng, tiến bộ và cái bảo thủ trì trệ. Thực chất cuộc đấu tranh giai cấp nước ta hiện nay là cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chống lại âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền và lợi ích của nhân dân. Đảng khẳng định nhiệm vụ đó là: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”[18].        

4.     Vấn đề con người

Chủ nghĩa duy vật lịch sử đặc biệt đề cao vai trò của con người với sự phát triển của xã hội. Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử. C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”[19]. Bản chất của con người luôn được hình thành và thể hiện ra ở những con người hiện thực - trong những điều kiện lịch sử cụ thể và các quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người. Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử, con người sinh tồn phải qua lao động và đây là hoạt động là quan trọng đối với sự phát triển của con người và xã hội.

 Kế thừa tư tưởng của Chủ nghĩa Mác- Lênin, Đảng ta đặc biệt đề cao vai trò của con người và việc phát triển con người. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”[20]. Để đất nước phát triển nhanh và bền vững, nội lực chủ yếu vẫn là việc phát huy tối đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Vì vậy, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”[21] là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Cần thực hiện tốt hơn các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Hiện nay, nâng cao trình độ của con người phải: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chú trọng hơn vào giáo đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc…ý thức, trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân nhất là thế hệ trẻ. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam.”[22] Như vậy, Đảng ta chú trọng sâu hơn về phát triển con người hướng đến sự toàn diện: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[23].

Đại hội XIII của Đảng đã xác định những quan điểm, chủ trương rất mới, sâu sắc và toàn diện, góp phần củng cố giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại ngày nay cũng như thể hiện ngày càng linh hoạt và sáng tạo hơn những giá trị lý luận vào trong hiện thực đất nước chúng ta.  Đây là định hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước đi lên, lập nên những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, 1995, tập 13, tr.15

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.119 – 120.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.115

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.140

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.115

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XII, 2016, tr.102, 103.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.129

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XII, 2016, tr.75

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.98

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.98

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.59

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.120

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr. 120, 121.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 2, tr. 334..

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr. 175..

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.166.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.166.

[18] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII,  2021, tập 1, tr.156

[19] C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tập 3, tr.11

[20] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 2, tr.81

[21] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.47

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII, 2021, tập 1, tr.136,137.

[23] Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIII,  2021, tập 1, tr.115-116