ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG CỤ THỂ HÓA CHỦ NGHĨA DUY VẬT
LỊCH SỬ TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
ThS.Bùi Nguyễn Hồng Quyên
GV Khoa Lý luận cơ sở
Chủ nghĩa duy vật lịch
sử là nội dung đặc biệt quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nội dung này cho
thấy những mối quan hệ biện chứng trong các lĩnh vực cơ bản nhất và những quy
luật nền tảng chi phối sự phát triển xã hội. Nắm được các nội dung của chủ
nghĩa duy lịch sử giúp chúng ta hiểu rõ quy luật phát triển của xã hội với các
vấn đề cơ bản như: hình thái kinh tế- xã hội, giai cấp và dân tộc, nhà nước và
cách mạng, tồn tại xã hội và ý thức xã hội, triết học về con người. Từ những
quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta đã kế thừa, cụ thể
hóa và triển khai vận dụng vào quá trình lãnh đạo, xây dựng phát triển đất
nước, Những vấn đề này được đề cập rõ nét trong
Văn kiện Đại hội XIII, cụ thể như sau:
1. Về xây dựng quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Quy luật về sự phù hợp
giữa quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất lý giải nguyên nhân
sâu xa về sự thay đổi của xã hội. C.Mác đã từng chỉ rõ: “Tới một giai đoạn phát
triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn
với những quan hệ sản xuất hiện có”. Đây là quy luật cơ bản
của mọi nền kinh tế, việc nhận thức đúng và vận dụng một cách sáng tạo quy luật
này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Trong nhận
thức và giải quyết các mối quan hệ lớn,… cần chú trọng hơn đến: bảo đảm định
hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp” .
Vận dụng quy luật này trong thực tế cho thấy,
Đảng ta ngày càng hết sức coi trọng việc phát triển đồng đều quan hệ sản xuất
phù hợp với lực lượng sản xuất, tạo nên sự thống nhất, tương tác hỗ trợ nhau.
Về phát triển lực lượng sản xuất, trong đó phát
triển nguồn nhân lực mà nòng cốt chính là người lao động - yếu tố hợp thành
quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, V.I.Lênin từng nói, công nhân, người
lao động là lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại. Đảng ta xác định,
hiện nay người lao động nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng là
một trong những đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong nhiệm kỳ Đại
hội XIII và cho cả những năm tiếp theo, vì vậy cần phải “phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”.
Trong lao động, con người tích cực, chủ động,
sáng tạo và
các ngành khoa học ra đời cũng là sản phẩm của tư duy con người, với hình thức
cao, hoàn thiện, cụ thể hóa nhận thức thành hiện thực, khoa học quay trở lại hỗ
trợ và dần thay thế con người trong lao động sản xuất. Đại hội XIII xác định
vai trò của khoa học trong phát triển lực lượng sản xuất là: “Tiếp tục thực
hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động
lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”, cần thiết phải “Thúc đẩy
nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành,
lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo
tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở
một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”.
Như vậy trong nhận thức
và chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong tình hình mới, Đảng ta thực sự coi yếu tố người lao động, khoa học và
công nghệ là nền tảng, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại, có sự điều chỉnh, vận dụng hợp lý, thích ứng kịp thời và đầu tư thực
chất, phát triển có chiều sâu vào vấn đề này.
Về xây dựng quan hệ sản
xuất mới – quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, Đảng chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh
đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh
tế, đặc biệt là phù hợp với trình độ, năng lực của người lao động nước ta hiện
nay. Đại hội lần thứ XII đã chỉ rõ: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, có nhiều thành phần kinh tế,
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực
quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng,
hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật…”. Đến
Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế: trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng
được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”.
Phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng các hình thức sở hữu cho thấy đó
là hình thức phù hợp để phát huy và tận dụng lợi thế về mặt con người cũng như
khoa học kỹ thuật khi trình độ lao động và công nghệ của đất nước còn rất nhiều
vấn đề cần phải cải tạo và hoàn thiện.
Sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo quy luật về sự
phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất trong thời kỳ đổi mới đã
góp phần làm cho nền kinh tế nước ta có những bước phát triển vượt bậc. Nền
kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo đà cho sự phát triển, tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, trở thành nước có thu nhập trung bình.
2. Về quan hệ giữa chính
trị và kinh tế
Trong Chủ nghĩa duy vật
lịch sử đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng. Thực chất đây là mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị trong đó kinh
tế là nền tảng quyết định các quan hệ chính trị. Chính trị là biểu hiện tập
trung của kinh tế nhưng có tính độc lập tương đối nên chính trị tác động trở
lại kinh tế.
Từ khi tiến hành công
cuộc đổi mới đến nay, Đảng ta chủ trương xây dựng kinh tế gắn liền với chính trị,
lấy kinh tế làm động lực then chốt thúc đẩy và hoàn thiện thể chế chính trị.
Đại hội XII chỉ rõ “Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện
và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính
trị”,
do đó để thúc đẩy mạnh hơn quá trình này, trước hết cần tập trung đổi mới thể
chế phát triển cả kinh tế và chính trị. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, nhiều chủ
trương lớn được Đảng, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện, về kinh tế là 3 đột
phát chiến lược; cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy
phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới. Đại hội XIII
vẫn khẳng định “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.
Và yêu cầu “Đổi mới mạnh mẽ hơn hơn phương thức quản lý nhà nước về kinh tế
theo hướng chuyển giao những công việc Nhà nước không nhất thiết phải làm cho
các tổ chức xã hội”.
Đại hội XIII đánh giá:
“tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của
nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; quy
mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện” đồng thời “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng
kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất,
tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng
tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi
nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng
ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm
công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có
hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”. Cơ
cấu lại nền kinh tế, Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh: “Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu
lại nền kinh tế. Cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư, nhất là đầu tư công. Cơ
cấu lại, phát triển lành mạnh các loại thị trường, nhất là thị trường các yếu tố
sản xuất để huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực”. Đồng
thời có điểm mới là cơ cấu lại kinh tế vùng, đổi mới thể chế liên kết giữa các
địa phương trong vùng và giữa các vùng, phát huy vai trò các vùng kinh tế động
lực, quan tâm phát triển các vùng còn khó khăn, thu hẹp chênh lệch phát triển
giữa các vùng.
Về chính trị: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện,
trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng
tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”
nhằm tạo bước tiến và thành quả rõ rệt trong chống quan liêu, tham nhũng. Đồng
thời, đẩy mạnh việc tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự suy
thoái về chính trị, tư tưởng và đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hoá” trong nội bộ.
Đảng ta xác định, nhiệm vụ
trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là: “Tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do
Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng lãnh đạo... Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường
kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống
nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo,
bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”.
Trong đổi mới, nước ta vận dụng
linh hoạt giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, tiến hành đổi mới một cách
đồng bộ với những bước đi phù hợp giữa hai yếu tố này, nhờ vậy đạt được nhiều
thành tựu to lớn: chủ nghĩa xã hội được giữ vững, kinh tế phát triển, tiến bộ
xã hội biểu hiện rõ rệt.
3. Về vấn đề giai cấp trong
giai đoạn hiện nay
Chủ nghĩa duy vật lịch sử đề cập đến giai cấp
và đấu tranh giai cấp; đấu tranh giai cấp góp phần cải tạo xã hội, xóa bỏ cái
cũ cái lạc hậu, bảo thủ, tạo cơ sở cho cái mới, cái tiến bộ nảy sinh và phát
triển. Đấu tranh giai cấp cũng góp phần cải tạo giai cấp cách mạng, để trở
thành giai cấp có đủ năng lực lãnh đạo đối với toàn xã hội. Thông qua đấu tranh
giai cấp mà các lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật đạo đức… được phát triển
phù hợp với sự tiến bộ của xã hội.
Kế thừa những tư tưởng
trên, Đại hội XIII, Đảng ta bàn nhiều về cơ cấu giai cấp của nước ta hiện nay
bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh
nhân, thế hệ trẻ, tầng lớp phụ nữ, cựu chiến binh, công an, người cao tuổi...,
đồng thời đưa ra nhiệm vụ, phương hướng để phát triển từng giai cấp, tầng lớp,
đội ngũ riêng. Đối với giai cấp công nhân cần phải: “Xây dựng giai cấp công
nhân hiện đại lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên
môn, kĩ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Trong giải quyết vấn đề
giai cấp ở Việt Nam hiện nay, Đại hội XIII nhấn mạnh: “Giải quyết hài hòa các
quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
nhân dân; không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân”.
Cùng với chăm lo đời
sống cho giai cấp, Đảng cũng chỉ ra những biểu hiện của đấu tranh giai cấp ở
Việt Nam hiện nay là thời kỳ đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái cách mạng,
tiến bộ và cái bảo thủ trì trệ. Thực chất cuộc đấu tranh giai cấp nước ta hiện
nay là cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo, chống lại âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực thù
địch, bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền và lợi ích của nhân dân. Đảng khẳng
định nhiệm vụ đó là: “Kiên quyết đấu tranh
làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”.
4. Vấn đề con người
Chủ nghĩa duy vật lịch
sử đặc biệt đề cao vai trò của con người với sự phát triển của xã hội. Con người
vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử. C.Mác và
Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là
tổng hòa các quan hệ xã hội”. Bản chất của con người
luôn được hình thành và thể hiện ra ở những con người hiện thực - trong những
điều kiện lịch sử cụ thể và các quan hệ xã hội tạo nên bản chất của con người.
Con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử, con người sinh tồn phải
qua lao động và đây là hoạt động là quan trọng đối với sự phát triển của con
người và xã hội.
Kế thừa tư tưởng của Chủ nghĩa Mác- Lênin,
Đảng ta đặc biệt đề cao vai trò của con người và việc phát triển con người. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là
trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”. Để
đất nước phát triển nhanh và bền vững, nội lực chủ yếu vẫn là việc phát huy tối
đa nhân tố con người; lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển
quan trọng nhất của đất nước. Vì vậy, “Xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện
đại”
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Cần thực hiện tốt hơn các chính sách xã
hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.
Hiện nay, nâng cao trình
độ của con người phải: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực chú trọng hơn vào giáo đạo đức, nhân cách, năng
lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự
hào, tự tôn dân tộc…ý thức, trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân nhất
là thế hệ trẻ. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo
dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam.” Như vậy, Đảng ta chú
trọng sâu hơn về phát triển con người hướng đến sự toàn diện: “Phát triển con
người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực
phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”.
Đại hội XIII của Đảng đã xác định những quan điểm,
chủ trương rất mới, sâu sắc và toàn diện, góp phần củng cố giá trị của chủ nghĩa Mác –
Lênin trong thời đại ngày nay cũng như thể hiện ngày càng linh hoạt và sáng tạo
hơn những giá trị lý luận vào trong hiện thực đất nước chúng ta. Đây là định hướng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững
bước đi lên, lập nên những thành tựu mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.