Trong giáo trình Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, môn học đầu tiên tập trung hầu hết các kiến thức nền tảng về lý luận mang đến nhiều kiến thức nền cung cấp cho học viên cái nhìn khách quan và phương pháp nhận thức đúng về các vấn đề chung của tự nhiên, xã hội và tư duy. Bài 1 - Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng là bài học đầu tiên với lượng kiến thức khá nhiều và mang tính trừu tượng cao nhưng thời gian giảng dạy lại ngắn nên môn này đã trở thành vật cản khá lớn trong tư duy người học với thời gian tiếp xúc để hiểu các vấn đề khá khiêm tốn và hầu như trong giáo trình thì lý giải cũng rất hàn lâm mà lại rất ít các ví dụ cụ thể để chứng minh.
Hầu hết nội dung kiến thức của bài là quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin. Để tạo ra một lớp học với không khí hòa đồng, hợp tác trong môn học này là điều khó với những người mới tiếp xúc với môn này. Vì vậy nếu như giảng viên chỉ duy trì lối giảng sử dụng phương pháp thuyết trình là chính thì sẽ đi vào lối đi truyền thống và mang đến cho học viên tâm lý căng thẳng, thậm chí thờ ơ với môn học này. Nguyên nhân cũng có một phần là đến từ học viên bởi ngay từ đầu đã có tâm lý chán nản với môn học, nhưng thiết nghĩ phần lớn vẫn là lỗi ở người giảng viên bởi phương pháp truyền đạt chưa phù hợp, chưa có sự đầu tư tìm hiểu để thay đổi cách thức giảng. Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa giảng viên và học viên, nếu giảng viên chỉ chăm chỉ thuyết trình thì những nội dung được truyền giảng thì chỉ dừng lại ở kiến thức một chiều, người thầy có thể tâm huyết truyền đạt mà không nhận thấy rằng đang gây ra sự nhàm chán cho học viên. Có thể người học đã biết những kiến thức ấy, hoặc những kiến thức đó quá trừu tượng, khó tiếp cận, khó hiểu dẫn đến tâm lý của người học là xem thường môn học, không thấy được ý nghĩa giá trị thực tiễn của môn học với cuộc sống. Trước những vấn đề đó, đòi hỏi người giảng viên phải nhận thấy được những hạn chế về mặt phương pháp và với điều kiện hiện nay thì việc yêu cầu phải đổi mới phương pháp trong quá trình đứng lớp là cần thiết. Nếu người giảng viên tìm ra phương pháp phù hợp và học viên được tiếp cận với phương pháp truyền đạt tốt thì bản thân họ có phương pháp tiếp thu và tự nghiên cứu tốt. Làm được điều đó thì chắc chắn, triết học nói riêng và lý luận nói chung sẽ trở nên gần gũi hơn. Xác định được mục tiêu như vậy thì quá trình giảng dạy sẽ dần thay đổi được tâm lý của người học với môn học này, tạo ra sự gần gũi, phát huy tính tích cực của người học, lấy người học làm trung tâm, hơn nữa giảng viên cũng sẽ học được từ học viên của mình rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế.
Dưới góc độ là một giảng viên trực tiếp giảng dạy bài Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tuy thời gian chưa dài, chưa nhiều tích lũy nên để nói là chia sẻ kinh nghiệm thì cũng chưa đủ nhưng ở góc độ của một người luôn muốn có sự tiếp cận triết học gần hơn, dễ hiểu hơn và tạo nên một không khí lạc quan khi học lý luận thì tôi nhận thấy việc áp dụng những phương pháp dạy học tích cực sẽ phát huy vai trò của người học vào quá trình nhận thức, hơn hết là thay đổi quan niệm của người học trước nay về phần triết học nói riêng. Sử dụng phương pháp tích cực vào bài giảng góp phần đưa học viên tiếp cận vấn đề, nội dung kiến thức dễ hiểu hơn, nhận thấy đằng sau những ngôn ngữ bác học mang tính trừu tượng là giá trị chân thực rất gần với cuộc sống hàng ngày và có thể vận dụng sáng tạo khi giải quyết vấn đề trong thực tiễn mang tính logic, tính khoa học. Trong nội dung bài học này, tôi chia sẻ một số phương pháp dạy học tích cực có thể sử dụng như sau:
Sử dụng phương pháp chuyên gia:
Trong bài này, phương pháp chuyên gia có thể áp dụng vào nội dung của mục 3.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Sau khi giảng xong các khái niệm, tính chất và ý nghĩa phương pháp luận của nội dung này thì giảng viên có thể sử dụng phương pháp chuyên gia. Từ những học viên trong lớp với nhiều ngành nghề khác nhau cùng quá trình làm việc trong thực tiễn thì học viên sẽ có thể nói về việc vận dụng mối liên hệ phổ biến ở trong các lĩnh vực như: Mô hình liên kết bốn nhà trong nông nghiệp, hợp đồng BT, BOT trong lĩnh vực giao thông vận tải, hay liên hệ giữa các bệnh viện tuyến trung ương với bệnh viện tuyến dưới trong khám, chữa bệnh, phẫu thuật… Quá trình sử dụng phương pháp chuyên gia vào nội dung này trong quá trình giảng, tôi nhận thấy học viên có vốn hiểu biết rất rộng và có những học viên làm đúng trong các lĩnh vực này đã chia sẻ rất sâu các vấn đề, kể cả những vướng mắc, những khó khăn khi liên kết, tuy nhiên đọng lại là những ví dụ từ thực tiễn hết sức sinh động, cụ thể, hữu ích, học viên được nêu lên ý kiến của mình và giảng viên thì được tiếp nhận thêm những thông tin thực tiễn mới phong phú đa dạng.
Phương pháp chuyên gia cũng có thể áp dụng vào trong mục 4.2.3 Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Nội dung này nói về sự thống nhất, mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, mỗi phạm trù đều có sự tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Và khi nói về sự thống nhất giữa cặp phạm trù này, liên hệ trong công tác thì học viên nói lên nhiều vấn đề bất cập trong ngành, lĩnh vực mình làm, ví dụ như bất cập về đào tạo, bồi dưỡng bổ nhiệm cán bộ không theo đúng quy trình trong công tác cán bộ; trong các lĩnh vực của đời sống như vấn đề tuyển đầu vào cho các trường sư phạm với điểm số thấp và đào tạo tràn lan nhiều ngành học mà sinh viên ra trường thất nghiệp rất nhiều; Trong vấn đề an ninh mạng với những dự luật được xây dựng, đưa ra nhưng trong thực tiễn của mạng xã hội thì vẫn còn tồn tại rất nhiều trang web, kênh youtube có ảnh hưởng tiêu cực, vi phạm luật an ninh mạng vẫn chưa bị xử lý…
Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:
Sử dụng phương pháp này giảng viên sẽ phát huy được gần như sự làm việc tích cực của mọi thành viên trong lớp. Giảng viên có thể chia nhóm theo sơ đồ ngồi hoặc nếu có thời gian thì sẽ sắp xếp lại cách bố trí lớp học để phù hợp với phương pháp thảo luận. Làm việc nhóm cũng góp phần mang lại sự sáng tạo của học viên, các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau.
Phương pháp này có thể áp dụng trong một số mục của bài như mục 3.3 Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Trong mục này sau khi trình bày ba quy luật cơ bản, giảng viên cho áp dụng phương pháp thảo luận nhóm là tìm những câu ca dao, tục ngữ vận dụng, minh họa về quy luật lượng - chất, quy luật phủ định của phủ định, hoặc giảng viên sẽ đưa ra những tình huống để qua đó yêu cầu học viên phân tích, chỉ rõ từng bước trong quá trình thay đổi từ lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, hiểu hơn các khái niệm độ, điểm nút, bước nhảy.
Mục 3.2 về các cặp phạm trù, nội dung này có đến sáu cặp phạm trù vì thế giảng viên có thể chia nhóm để thảo luận về các cặp phạm trù cơ bản đó. Thời gian đầu khi mới giảng nội dung này tôi đã từng trình bày theo phương pháp thuyết trình và nó sẽ chiếm nhiều thời gian, mà thời gian dài này không mang đến sự hứng thú, tập trung ở người học mà lại tạo ra sự thụ động cho học viên. Thay thế điều đó thì khi đưa vào thảo luận, đã góp phần để học viên tham gia, các nhóm tự trao đổi và hoạt động theo sự hướng dẫn của giảng viên. Cụ thể là định hướng cho học viên tập trung vào phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các cặp phạm trù và phải lấy ví dụ minh họa. Sau khi các nhóm đã thảo luận và trình bày thì giảng viên chốt vấn đề, giải đáp những vấn đề mà nhóm chưa trình bày sâu, điển hình là ở ý nghĩa phương pháp luận, nội dung này thường thì các nhóm chỉ trình bày theo giáo trình mà chưa có sự phân tích sâu và chưa lấy được ví dụ minh họa.
Sử dụng phương pháp trực quan:
Trong quá trình giảng bài này, giảng viên có thể sáng tạo khi sử dụng phương pháp trực quan với sự hỗ trợ của powerpoint để thay đổi cách tiếp cận. Thay vì giảng viên phải diễn giảng trước các nội dung thì thông qua trực quan bằng hình ảnh, video hay sơ đồ thì đó như là những gợi mở để học viên tiếp cận dần dần và phân tích các nội dung, từ đó sẽ đi đến cái bao quát và giải quyết vấn đề một cách dễ hiểu hơn. Ví dụ như tại mục 2.1 Quan điểm duy vật Mácxít về vật chất, giảng viên có thể dùng hình ảnh trực quan để trình bày về các quan điểm vật chất qua từng thời kỳ; Sử dụng video tại mục 2.2 Quan điểm duy vật Mácxít về ý thức, nội dung video thấy được vai trò của bộ não trong quá trình hình thành ý thức; Mục 3.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cũng có thể sử dụng phương pháp trực quan, nội dung video là đề cập đến sự hợp tác để phát triển du lịch Khánh Hòa, qua đó để học viên có thể phân tích nội dung, từ đó giảng viên đi đến phân tích khái niệm, tính chất dựa trên đoạn video đã xem, đồng thời lấy thêm những ví dụ khác, làm rõ nội dung và đi đến chốt vấn đề… Khi chốt lại kiến thức của cả bài, giảng viên có thể dùng bản đồ tư duy để hệ thống lại kiến thức nói chung, có thể vẽ bản đồ tư duy ngay trên bảng, hoặc trình chiếu ngay trên powerpoint, với cách làm như vậy thì hệ thống kiến thức sẽ được diễn đạt sinh động, giảm đi sự nhàm chán theo phương pháp truyền thống.
Sử dụng phương pháp tình huống:
Phương pháp này giảng viên có thể áp dụng trong phần ý nghĩa phương pháp luận để học viên hiểu rõ hơn, cụ thể ngay trong thực tiễn làm tăng hiệu quả bài giảng. Ví dụ: Khi giảng về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, giảng viên có thể yêu cầu học viên chỉ ra những mâu thuẫn trong lĩnh vực đang công tác, phân tích tìm ra nguyên nhân mâu thuẫn và xây dựng phương án để giải quyết mâu thuẫn, từ đó rút ra kết luận chung nhất là muốn thúc đẩy sự phát triển phải tìm ra được mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn. Hoặc trong nội dung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, rút ra quan điểm khách quan, chống lại biểu hiện duy ý chí, giảng viên có thể nêu ví dụ về một vài biểu hiện duy ý chí trong thực tế, luôn tôn trọng quy luật khách quan… để qua đó học viên rút ra được bài học phải tôn trọng quy luật khách quan vốn có trên cơ sở đó vận dụng linh hoạt vào thực tiễn.
Ngoài việc sử dụng những phương pháp nói trên, trong quá trình giảng bài giáo viên có thể sử dụng thêm phương pháp hỏi đáp hoặc phỏng vấn nhanh với từng nội dung cụ thể. Giảng viên áp dụng linh hoạt ở nhiều mục của bài với những câu hỏi nhỏ, kích thích tư duy, gây sự chú ý của học viên. Nên sử dụng các câu hỏi ngắn, có tính logic nhưng cũng phải có sự gởi mở để học viên phát huy được khả năng về sự hiểu biết của mình. Đồng thời cũng có thể lồng ghép nhiều hình thức khác trong quá trình thuyết trình như phân biệt, so sánh, ví dụ. Nói về phương pháp luận triết học thì yêu cầu học viên phân biệt phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng bằng cách đưa ra một bảng đặc điểm, dấu hiệu, kèm ví dụ cho học viên phân loại. Hay như ở 1.2 Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của triết học, giảng nội dung về thế giới quan của triết học, giảng viên có thể yêu cầu học viên nêu tên hoặc kể những câu chuyện mang tính thần thoại, tôn giáo, và những câu chuyện có thực trong đời sống để minh họa cho từng loại hình thế giới quan…Như vậy sẽ giảm bớt được tình trạng đọc chép thụ động mà thay vào đó là tạo ra không khí chủ động, tương tác, cùng nhau trao đổi để hiểu nội dung vấn đề.
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy là điều cần thiết để tạo ra một lớp học vui vẻ, thoải mái, sáng tạo và mang lại sự hào hứng cho cả người học lẫn người dạy. Tuy nhiên, với những môn học còn mang nặng tính lý luận, hàn lâm thì điều này cũng không dễ, yêu cầu người giảng viên phải có sự đầu tư kỹ về nội dung kiến thức cũng như chiều sâu về mặt ý tưởng để sử dụng phương pháp tích cực nào sẽ phù hợp với nội dung nào. Việc áp dụng các phương pháp này đòi hỏi giảng viên phải mạnh dạn sử dụng và phải kiên trì thực nghiệm, bởi một nội dung cùng một phương pháp có thể thành công ở lớp học này nhưng thất bại ở lớp khác, chính vì vậy đòi hỏi tâm lý vững vàng và kiên định, đặc biệt là giảng viên phải có sự kiểm điểm, đánh giá lại sau những lần giảng để nhận ra những mặt hạn chế, chưa tốt và có hướng khắc phục. Con đường nào và phương pháp mới nào khi đi vào sử dụng cũng sẽ gặp khó khăn, nhưng vì mục tiêu lấy người học làm trung tâm, tạo ra lớp học vui vẻ, bổ ích thì việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực là điều mà mỗi một giảng viên khi đứng lớp nên có và cần có.