KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ (27/7/1947 - 27/7/2026)!

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 15/12/2019]
BÁC HỒ VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
ThS. Bùi Nguyễn Hồng Quyên
Khoa Lý luận cơ sở

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của người dân đất nước mình, các tầng lớp nhân dân từ già, trẻ, trai, gái, đến phụ nữ, thanh thiếu niên, nhi đồng…, mỗi một đối tượng Người đều có sự quan tâm rất riêng và hầu như vào những dịp lễ đặc biệt thì những vần thơ, hay những lời tâm sự lại được gửi đến với sự chân thành, mẫu mực của người ông, người cha, người chú, người anh. Đó là điều hết sức đáng quý, đáng trân trọng ở một vị lãnh tụ dù bận việc quân, việc nước thế nhưng lại vô cùng giản dị, gần gũi với đồng bào với nhân dân của mình. Trong tình yêu to lớn giành cho cả dân tộc thì một góc của tình yêu ấy, Người giành cho đồng bào dân tộc thiểu số với bao nhiêu trăn trở, lo âu.

Ngày ra đi tìm đường cứu nước, miền Nam tiễn Bác bằng sóng nước mênh mông thì 30 năm sau ngày trở về, nơi Bác đặt chân là miền núi trùng điệp, hẻo lánh nhưng con người và thiên nhiên thì hiền hòa, gần gũi. Cũng chính vào những năm đầu trở về với Tổ quốc, mảnh đất và con người Việt Bắc đã để lại cho Người những dấu ấn không thể nào quên với cuộc sống hòa mình cùng với đồng bào, là hình ảnh ông Ké tắm cho trẻ nhỏ, giúp đỡ người già, dạy thanh niên biết chữ, dạy đồng bào cách trồng rau, tăng gia sản xuất. Dù xuất hiện ở những nơi này trước hay sau kháng chiến thì hình ảnh cụ già dáng người nhanh nhẹn, đôi mắt sáng ngời, nụ cười hiền hậu vẫn còn lưu giữ lại với Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang… với cả núi rừng, con người Việt Bắc. Nhà thơ Tố Hữu từng viết:

“Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người”

Khoảng thời gian Bác cùng sống với đồng bào dân tộc thiểu số không nhiều, và không phải đồng bào của miền nào Bác cũng có thể ghé thăm, vậy nhưng chính quãng thời gian ngắn ấy cũng đủ để cho Người thấy được giá trị của vùng núi rừng hiểm trở, đặc biệt là giá trị con người nơi đây, và cũng từ những điều thực tế mắt thấy, tai nghe ấy đã hình thành nên trong con người Hồ Chí Minh những bài học to lớn dẫn đường chỉ lối cho Đảng ta trong suốt quá trình hoạt động xây dựng Đảng lớn mạnh, dân tộc đoàn kết, thống nhất, hòa bình và phát triển.

Với tư tưởng nhất quán: “Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở bình đẳng, xoá bỏ thành kiến, khoảng cách dân tộc, chăm lo mọi mặt để miền núi tiến kịp miền xuôi. Người luôn quan tâm, kêu gọi sự đoàn kết giữa các dân tộc, giữa dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau để thực hiện khát vọng giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng bào Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số "đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta".[1]

Tại Đại hội lần thứ nhất các dân tộc thiểu số diễn ra ngày 03/12/1945, trong bài phát biểu Bác khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết trong đấu tranh của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa… Hôm nay là một ngày rất vẻ vang cho nước Việt Nam, là một đại hội xưa nay chưa từng có, một cuộc thân thiện làm cho cả nước vui mừng...; trước kia, các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”.[2]

Khẳng định vai trò của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam trong quá trình đấu tranh để xây dựng được và giữ được một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây cơ sở, căn cứ cách mạng từ  Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên rồi sau đó mở rộng sang Tây Bắc, vào Tây Nguyên… Tại những nơi này, Người nhìn thấy và tin tưởng vào lòng trung thành, tinh thần chịu đựng hy sinh, lối sống giản dị, mộc mạc và sự tận tụy với công việc của đồng bào các dân tộc thiểu số nên đã tuyên truyền, cổ vũ đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia phong trào cách mạng, tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, hòa chung với tinh thần, nhiệt huyết cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước.

Trong kháng chiến là vậy, cần xây dựng khối đoàn kết dân tộc Người đã xây, cần có căn cứ cách mạng trong lòng dân Người cũng đã có, và khi miền Bắc đã hòa bình, miền Nam vẫn còn đang đấu tranh giành độc lập, thống nhất dân tộc thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng đến vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số. Tháng 10 năm 1961, nói chuyện tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác xã nông nghiệp ở miền núi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh ba vấn đề đồng bào các dân tộc thiểu số cần phải chú trọng, một là: Phải tăng cường đoàn kết dân tộc. Ðây là một công tác rất quan trọng, có nội dung mới và rộng hơn. Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số...; Hai là: Phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ miền núi. Cố nhiên cán bộ người Kinh phải giúp đỡ anh em cán bộ địa phương, nhưng phải làm sao cho cán bộ địa phương tiến bộ, để anh em tự quản lý lấy công việc ở địa phương chứ không phải là bao biện làm thay; Ba là: Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm cho đời sống đồng bào địa phương ngày càng khá hơn cả về vật chất và tinh thần”.[3]

Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác dân vận đồng bào. Người đã nêu rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục đối với miền núi và nhắc nhở các cán bộ tuyên truyền phải ghi nhớ: Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Trong công tác, mỗi cán bộ phải luôn tự hỏi và trả lời được các câu hỏi: Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? Công tác tuyên truyền phải xuất phát từ nhiệt tình cách mạng, tình thương yêu chân thành đồng bào các dân tộc, tinh thần hết lòng phục vụ đồng bào để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Từ việc tuyên truyền đến giáo dục, giúp đỡ để đồng bào nhận thức sâu sắc hơn về ý thức đoàn kết và bình đẳng dân tộc, cho đồng bào hiểu được sự cần thiết phải xóa bỏ các thành kiến dân tộc, khắc phục những tập tục lạc hậu, chăm lo phát triển sản xuất, để từng bước thoát khỏi đói nghèo lạc hậu.

Những việc làm, cũng như tấm lòng của Bác đối với đồng bào dân tộc thiểu số vừa gần gũi, chân thành nhưng cũng là những bước đi vững chắc để xây dựng nên bức tường lòng tin yêu trong đồng bào, để từ đó kết nối khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong chiến tranh hay hòa bình xây dựng đất nước thì bài học và tầm quan trọng của đồng bào dân tộc thiểu số mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra luôn luôn là kim chỉ nam không chỉ với Đảng mà còn là lời nhắc mỗi cá nhân, tập thể, công dân Việt Nam phải ghi nhớ “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt”, cả dân tộc chúng ta là một khối đại đoàn kết thống nhất.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4,Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tr 217 - 218.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4,Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tr 110.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 9,Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tr 181 – 182.