CHÚC MỪNG 101 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 – 21/6/2026) 

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 02/02/2020]
VAI TRÒ CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH
THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lê Quang Minh - Giảng viên khoa Xây dựng Đảng

Đầu tháng 02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đây là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng mang tính bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định nội dung, phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời chấm dứt sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước của dân tộc trong hơn 7 thập kỉ. Đảng Cộng sản Việt Nam với lựa chọn con đường cách mạng vô sản để giải phóng dân tộc là quyết định sáng suốt, phù hợp với nội dung và xu thế cách mạng của thời đại mới được mở ra từ Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đó là sự phản ánh quy luật ra đời khách quan và cội nguồn sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời thể hiện vai trò to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong quá trình vận động thành lập Đảng. Vai trò đó thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc là người tìm ra và lựa chọn con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản. Con đường duy nhất đúng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người phù hợp với điều kiện của Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản phù hợp với nội dung và xu thế của thời đại mới được mở ra từ Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thật sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta” [1]. Đồng thời, sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới: Giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thứ hai, sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong phương thức truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân Việt Nam. Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân Việt Nam khi ra đời ngoài việc bị áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, giai cấp tư sản, thì còn chịu sự kìm kẹp hà khắc của chế độ phong kiến. Bên cạnh đó, đến cuối thập niên 1920, giai cấp công nhân Việt Nam còn rất hạn chế về lực lượng so với giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển (lúc này giai cấp công nhân Việt Nam chỉ chiếm trên 1% dân số). Trong bối cảnh lịch sử ấy, chủ nghĩa Mác-Lênin không thể truyền bá trực tiếp vào phong trào công nhân như “công thức” thành lập đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển (chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công nhân dẫn đến sự ra đời chính đảng cộng sản). Nguyễn Ái Quốc, hơn ai hết, là người hiểu sâu sắc đặc điểm của xã hội Việt Nam, từ đó, người đã thực hiện “lộ trình”: “...đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đ­ưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập[2], thông qua chủ trương sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (06/1925) - một tổ chức tập hợp những thanh niên yêu nước, có khát vọng đi tìm con đường cách mạng để cứu nước, giải phóng dân tộc. Thông qua Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên là cầu nối chuyển tải lý luận cách mạng vô sản đến với cách mạng Việt Nam có hiệu quả.

Sự phát triển rộng rãi về mặt lực lượng, tổ chức của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ở trong nước, đặc biệt với kết quả của phong trào vô sản hóa năm 1928-1929, các tổ chức cộng sản đã xuất hiện ở trên cả ba kỳ của Việt Nam, đưa phong trào cách mạng Việt Nam tiến đến thời kỳ “bước nhảy” sau quá trình tích cực chuẩn bị, tích lũy cả về “chất”“lượng”, đồng thời bước vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới, góp phần thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đưa cách mạng Việt Nam trở thành bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới.

Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Đầu năm 1930, phong trào cách mạng ở nước ta xuất hiện tình trạng phân tán, chia rẽ lực lượng cách mạng Việt Nam: “hai nhóm cộng sản sử dụng nhiều - nếu không nói là tất cả - nghị lực và thời gian trong cuộc đấu tranh nội bộ và bè phái”[3]. Trước tình hình đó, với tinh thần chủ động, sáng tạo và uy tín chính trị của mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã “có sáng kiến đúng” kịp thời giải quyết yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam, đó là triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Bằng phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, cùng với uy tín chính trị của mình Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì thành công hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương pháp hợp nhất các tổ chức cộng sản là phương pháp tối ưu trong tình hình lúc bấy giờ vì các tổ chức này đều có chung mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, và đều khẳng định đi theo con đường cách mạng vô sản. Trong tác phẩm  Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương, được công bố năm 1933, tác giả Hồng Thế Công (Hà Huy Tập) đã khẳng định cống hiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với sự kiện thành lập Đảng: “Công lao to lớn của đồng chí là đã tập hợp được các lực lượng cộng sản phân tán lại thành một khối, nhờ đó mà đưa lại cho những người lao động Đông Dương một đội tiên phong chiến đấu và kiên quyết cách mạng”[4].

 Thứ tư, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo những văn kiện vô cùng quan trọng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được tiến hành từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Thành công lớn nhất của hội nghị là hợp nhất thành công các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam: Thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX; chỉ rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độ các giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Từ đó, các văn kiện đã xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra.

Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Khi đánh giá quá trình cách mạng Việt Nam hơn 80 năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhận định: “Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.”[5].

Như vậy, có thể thấy rằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là thành quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giữ vai trò là người “kiến tạo”“sáng lập”. Trong vai trò đó, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị, tổ chức, và chủ động trong việc triệu tập, chủ trì Hội nghị thành lập Đảng. Đây là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt tiếp theo của cách mạng nước ta./.

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.Sự Thật, H.1991, tr.109
[2]. Hồ CHí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2000, tập 1, tr 192
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2002, tập 2, tr 21
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2002, tập 4, tr 409
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2011, tr23