Những điểm nổi bật trong thí điểm tổ chức mô hình bộ máy chính quyền đô thị
tại thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh
ThS. Đặng Thịnh
Giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật
Ngày 01 tháng 8
năm 2007, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) ban hành
Nghị quyết số 17/NQ-TW về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, hiệu
quả quản lý của bộ máy nhà nước đã đề ra phương hướng: “Thực hiện thí điểm
không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường”. Kỳ họp thứ 4 Quốc hội
khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ
chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường; Nghị quyết số 25/2008/QH12 về việc
kéo dài nhiệm kỳ hoạt động 2004-2009 của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
các cấp. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số
724/2009/UBTVQH12 ngày 16 tháng 01 năm 2009 về danh sách huyện, quận, phường
của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức Hội
đồng nhân dân huyện, quận, phường. Theo đó, việc thí điểm này được thực hiện
trên 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, đó là: Lào Cai; Vĩnh Phúc; Thành phố Hải Phòng; Nam Định; Quảng Trị;
Thành phố Đà Nẵng; Phú Yên; Thành phố Hồ Chí Minh; Bà Rịa - Vũng Tàu; Kiên
Giang. Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường lần
thứ nhất đã diễn ra trong vòng gần 5 năm với nhiều kết quả rất đáng ghi nhận.
Để nhằm tạo ra
đột phá trong đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương, hướng đến mục
tiêu tinh gọn bộ máy, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả hơn nữa, việc tiếp tục thí
điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại 03 thành phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành
phố Hồ Chí Minh đã được Quốc hội thông qua theo các Nghị quyết số 97/2019/QH14,
số 119/2020/QH14 và số 131/2020/QH14 của Quốc hội từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 cho
đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm.
Thực hiện các
Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 32/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết
số 97/2019/QH14 ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô
hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội; Nghị định số 33/2021/NĐ-CP quy
định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14 ngày 16 tháng
11 năm 2020 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí
Minh và Nghị định số 34/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị
quyết số 119/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội về thí điểm tổ
chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển
thành phố Đà Nẵng.
Thực hiện các văn bản nêu trên, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ
máy của chính quyền đô thị của Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh trong
nhiệm kỳ 2021-2026 đã có rất nhiều điểm đổi mới so với các nhiệm kỳ trước đây.
Những thay đổi này có thể thấy rõ trên một số phương diện nổi bật như sau:
Thứ nhất, về vấn đề bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong bộ máy chính
quyền địa phương
Nếu như các địa phương khác trong cả nước người dân sẽ tiến hành bầu đầy đủ
đại biểu của Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ
2021-2026 thì tại địa bàn các thành phố nói trên việc bầu cử sẽ được tiến hành
như sau:
Trên địa bàn thành phố Hà Nội, chỉ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa
XV, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, đại biểu Hội đồng nhân dân các
quận, đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã Sơn Tây, đại biểu Hội đồng nhân dân các
huyện thuộc thành phố Hà Nội và đại biểu Hội đồng nhân dân các xã, thị trấn
thuộc các huyện, thị xã của thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2021-2026. Trong kỳ bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp lần này, Hà Nội thực hiện không tổ chức
bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tại tất cả các phường (177 phường) thuộc 12 quận
và thị xã Sơn Tây.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chỉ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa
XV, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng, đại biểu Hội đồng nhân dân
huyện Hòa Vang và đại biểu Hội đồng nhân dân các xã thuộc huyện Hòa Vang nhiệm
kỳ 2021-2026, không bầu Hội đồng nhân dân của 6 quận, 45 phường thuộc thành
phố.
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, chỉ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội
khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đại biểu Hội đồng
nhân dân thành phố Thủ Đức, đại biểu Hội đồng nhân dân các huyện thuộc thành
phố Hồ Chí Minh và đại biểu Hội đồng nhân dân các xã, thị trấn thuộc các huyện
của thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2021-2026. Không bầu đại biểu Hội đồng nhân
dân tại 19 quận và 259 phường ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Như vậy, với việc người dân không bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tại cấp
quận, phường ở các địa phương nêu trên đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây
dựng bộ máy của chính quyền địa phương, đặc biệt là Ủy ban nhân dân. Trong cơ
cấu tổ chức của chính quyền địa phương sẽ không tổ chức Hội đồng nhân dân theo
như quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật tổ chức
chính quyền địa phương sửa đổi năm 2019.
Thứ hai, về tổ chức của chính quyền địa phương
So với các quy định trong các văn bản như Luật tổ chức chính quyền địa
phương năm 2015; Luật tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi năm 2019; Nghị
định số 24/2014/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị
định 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Nghị định 08/2016/NĐ-CP quy định số lượng Phó Chủ
tịch Ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm,
điều động, cách chức thành viên Ủy ban nhân dân được ban hành ngày 25 tháng 01
năm 2016; Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4
năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Nghị định số 108/2020/NĐ-CP
ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức
các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Việc thí điểm tổ chức chính quyền địa
phương tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh đã có rất nhiều điểm khác
biệt.
* Đối với mô hình chính quyền đô thị tại
thành phố Hà Nội
Tại Nghị quyết số 97/2019/QH14 về việc thí điểm tổ chức mô hình chính quyền
đô thị tại thành phố Hà Nội tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà
Nội được quy định như sau:
Chính quyền địa phương ở thành phố Hà Nội, huyện, quận, thị xã, xã, thị
trấn là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Chính quyền địa phương ở các phường thuộc quận, thị xã tại thành phố Hà Nội
là Ủy ban nhân dân phường. Ủy ban nhân dân phường là cơ quan hành chính nhà
nước ở phường, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Nghị quyết số
97/2019/QH14 và theo phân cấp, ủy quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, thị
xã.
Khu vực nông thôn vẫn giữ mô hình ba cấp chính quyền (thành phố; huyện, thị
xã và xã, thị trấn).
Theo Nghị định số 32/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị
quyết số 97/2019/QH14 ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội về thí điểm tổ
chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội, cơ cấu tổ chức của Ủy ban
nhân dân phường gồm: Chủ tịch phường; Phó Chủ tịch phường; Trưởng Công an
phường; Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự phường và các công chức khác: Văn
phòng - Thống kế; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường; Tài chính - Kế
toán; Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội. Biên chế công chức bình quân làm
việc tại Ủy ban nhân dân phường là 15 người. Số bình quân này được tính trên
tổng số phường của một quận, thị xã.
* Đối với mô hình chính quyền đô thị tại
thành phố Hồ Chí Minh
Theo quy định tại Nghị quyết số 131/2020/QH14 ngày 16 tháng 11 năm 2020 của
Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh, chính quyền
địa phương ở thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức như sau:
Về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh: Chính quyền địa
phương ở Thành phố Hồ Chí Minh là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng
nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân thành phố.
Về tổ chức chính quyền địa phương ở quận là Ủy ban nhân dân quận: Ủy ban
nhân dân quận là cơ quan hành chính nhà nước ở quận, thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định của Nghị quyết số 131/2020/QH14 và theo phân cấp, ủy
quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố. Cơ cấu tổ chức
của Ủy ban nhân dân quận gồm: Chủ tịch quận; Phó Chủ tịch quận; Trưởng Công an
quận; Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân quận; các cơ quan hành chính khác và các đơn vị sự nghiệp công lập
thuộc Ủy ban nhân dân quận.
Về tổ chức chính quyền địa phương ở phường là Ủy ban nhân dân phường. Ủy
ban nhân dân phường là cơ quan hành chính nhà nước ở phường, thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Nghị quyết số 131/2020/QH14, theo phân
cấp của Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân quận, Ủy ban nhân dân thành
phố thuộc Thành phố và theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân quận, thành phố thuộc Thành phố.
Về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân phường gồm: Chủ tịch phường; Phó Chủ
tịch phường; Trưởng Công an phường; Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự phường;
các công chức: Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi
trường; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
Việc tổ chức chính quyền địa phương ở huyện, thành phố, xã, thị trấn của
Thành phố vẫn được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa
phương.
Đối với các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân cấp quận, Nghị định số
33/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số
131/2020/QH14 ngày 16/11/2020 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại
Thành phố Hồ Chí Minh có quy định cụ thể như sau: Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân quận, thành phố thuộc thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: Văn phòng Ủy ban
nhân dân quận; Phòng Nội vụ; Phòng Tư pháp; Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng
Lao động - Thương binh và Xã hội; Phòng Văn hóa và Thông tin; Phòng Quản lý đô
thị; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Giáo dục và Đào tạo; Thanh tra quận;
Phòng Kinh tế; Phòng Y tế; Phòng Khoa học và Công nghệ.
Như vậy, với cơ cấu tổ chức nêu trên của chính quyền địa phương tại thành
phố Hồ Chí Minh, các quận và phường sẽ không tổ chức Hội đồng nhân dân mà chỉ
có Ủy ban nhân dân từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm.
* Đối với mô hình chính quyền đô thị tại
thành phố Đà Nẵng
Theo quy định tại Nghị quyết số 119/2020/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình
chính quyền đô thị và cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng,
tổ chức chính quyền địa phương có một số điểm nổi bật như sau:
Về tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng: Chính quyền ở
thành phố Đà Nẵng là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân thành
phố và Ủy ban nhân dân thành phố;
Chính quyền địa phương ở các quận thuộc thành phố Đà Nẵng là Ủy ban nhân
dân quận. Ủy ban nhân dân quận là cơ quan hành chính nhà nước ở quận, thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Nghị quyết số 119/2020/QH14 và theo
phân cấp, ủy quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố;
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân quận gồm: Chủ tịch quận; Phó Chủ tịch
quận; Trưởng Công an quận; Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự quận; các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận; các cơ quan hành chính khác và các đơn
vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân quận. Ủy ban nhân dân thành phố Đà
Nẵng quy định cụ thể tên gọi và số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận cho
phù hợp. Riêng Văn phòng Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân quận được gọi là
Văn phòng Ủy ban nhân dân quận.
Chính quyền địa phương ở các phường thuộc quận tại thành phố Đà Nẵng là Ủy
ban nhân dân phường. Ủy ban nhân dân phường là cơ quan hành chính nhà nước ở
phường, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Nghị quyết số 119/2020/QH14
và theo phân cấp, ủy quyền của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
phố, Ủy ban nhân dân quận.
Theo quy định tại Nghị định số 34/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp
thi hành Nghị quyết số 119/2020/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội về
thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc
thù phát triển thành phố Đà Nẵng, cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân phường
gồm: Chủ tịch phường; Phó Chủ tịch phường; Trưởng Công an phường; Chỉ huy
trưởng Ban Chỉ huy quân sự phường; các công chức: Văn phòng - Thống kê; Địa
chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ
tịch; Văn hóa - Xã hội.
Ngoài ra, việc tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính khác
của thành phố Đà Nẵng được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền
địa phương.
Như vậy, với cơ cấu tổ chức nêu trên của chính quyền địa phương tại thành
phố Đà Nẵng, các quận và phường sẽ không tổ chức Hội đồng nhân dân mà chỉ có Ủy
ban nhân dân từ ngày 01 tháng 7 năm 2021 đến khi Quốc hội quyết định chấm dứt việc thực hiện thí điểm.
Thứ ba, về vấn
đề quản lý cán bộ, công chức
* Tại thành phố Hà Nội: Theo quy định tại Nghị định số 32/2021/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và
biện pháp thi hành Nghị quyết 131/2020/QH14 ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Quốc
hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hà Nội, việc quản lý công chức
làm việc tại Ủy ban nhân dân phường được thực hiện như sau:
Biên chế công
chức làm việc tại Ủy ban nhân dân phường thuộc biên chế công chức của Ủy ban
nhân dân quận, thị xã và do Ủy ban nhân dân quận, thị xã quản lý, sử dụng.
Căn cứ quy
định của pháp luật về thẩm quyền và phân cấp, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
và Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, thị xã thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức làm việc tại Ủy ban nhân dân phường.
Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận, thị xã quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều
động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, tạm đình chỉ công tác đối
với Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường; khen
thưởng, kỷ luật công chức làm việc tại Ủy ban nhân dân phường; giao quyền Chủ
tịch phường theo quy định của pháp luật.
* Tại thành phố Hồ Chí Minh: Theo quy định tại Nghị định số 33/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 của
Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 131/2020/QH14
ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành
phố Hồ Chí Minh việc quản lý công chức được thực hiện như sau:
Công chức của
Ủy ban nhân dân phường thuộc biên chế công chức của Ủy ban nhân dân quận, Ủy
ban nhân dân thành phố thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và do Ủy ban nhân dân quận,
Ủy ban nhân dân thành phố thuộc Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, sử dụng.
Chủ tịch Ủy
ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn
nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, tạm đình chỉ
công tác đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
quận, giao quyền Chủ tịch quận, quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố thuộc
Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch quận
và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố thuộc Thành phố Hồ Chí Minh quyết định bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen
thưởng, kỷ luật, tạm đình chỉ công tác đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường,
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, giao quyền Chủ tịch phường theo
quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố thuộc Thành phố
Hồ Chí Minh và Chủ tịch quận thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công
chức làm việc tại Ủy ban nhân dân quận, Ủy ban nhân dân thành phố thuộc Thành
phố Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân phường theo quy định của pháp luật về thẩm
quyền và phân cấp, ủy quyền.
* Tại thành phố Đà Nẵng: Theo quy định tại Nghị định 34/2021/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết
119/2020/QH14 về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và cơ chế, chính
sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng, việc quản lý công chức được thực
hiện như sau:
Công chức của
Ủy ban nhân dân phường thuộc biên chế công chức của Ủy ban nhân dân quận thuộc
thành phố Đà Nẵng và do Ủy ban nhân dân quận thuộc thành phố Đà Nẵng quản lý,
sử dụng.
Chủ tịch Ủy
ban nhân dân thành phố Đà Nẵng quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm,
điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, tạm đình chỉ công tác
đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đảo, Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện đảo, giao
quyền Chủ tịch quận theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch quận
thuộc thành phố Đà Nẵng quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều
động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, tạm đình chỉ công tác đối
với Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, người
đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
quận, giao quyền Chủ tịch phường theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân
dân thành phố Đà Nẵng và Chủ tịch quận thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và
quản lý công chức làm việc tại Ủy ban nhân dân quận và Ủy ban nhân dân phường
theo quy định của pháp luật về thẩm quyền và phân cấp, ủy quyền.
Như vậy, với
việc không tổ chức Hội đồng nhân dân tại các quận, các phường của thành phố Hà
Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, việc quản lý cán bộ, công chức đã có rất
nhiều thay đổi so với các quy định trước đây của Luật cán bộ, công chức. Đối
với các quận, các phường do không tổ chức Hội đồng nhân dân, nên việc bổ nhiệm
những vị trí lãnh đạo như Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân sẽ do Chủ tịch
cấp trên trực tiếp thực hiện. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp sẽ là
người thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn
nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, tạm đình chỉ
công tác đối với Chủ tịch và Phó chủ tịch cấp dưới trực tiếp. Đối với các Chủ
tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân được bổ nhiệm trực tiếp sẽ được quản lý theo
chế độ công chức thay vì quản lý theo
chế độ cán bộ như trước đây. Các công
chức chuyên môn của Ủy ban nhân dân phường sẽ thuộc biên chế công chức của Ủy
ban nhân dân quận, thành phố và do Ủy ban nhân dân quận, thành phố quản lý, sử
dụng.
Thứ tư, về
việc giữ nguyên tên gọi “Ủy ban nhân dân” khi không có Hội đồng nhân dân
Để đảm bảo
thực hiện nghiêm túc Kết luận số 46 của Bộ Chính trị; tạo điều kiện thuận lợi
trong việc luân chuyển cán bộ giữa các quận, phường có tổ chức Hội đồng nhân
dân và không tổ chức Hội đồng nhân dân; giữ nguyên được toàn bộ hồ sơ lý lịch
của dân cư; giữ nguyên được các văn bản pháp lý đã cấp như sổ đỏ, chứng minh
nhân dân...; đẩy nhanh tiến độ xây dựng chính quyền điện tử; đáp ứng yêu cầu,
nguyện vọng của người dân, đảm bảo thực hiện theo đúng các quy định pháp luật
hiện hành của nhà nước hiện nay thì vẫn nên giữ nguyên tên gọi là “Ủy ban nhân
dân” tại các nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân.
Thứ năm, về
vấn đề thực hiện cơ chế giám sát tại các cấp không tổ chức Hội đồng nhân dân
Giám sát là
việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu
cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Theo như quy định của Luật Tổ chức
chính quyền địa phương năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng
nhân dân năm 2015 thì Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ giám sát đối với Ủy ban
nhân dân và các cơ quan nhà nước tại địa phương. Trong điều kiện thực hiện thí
điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân tại quận và phường trong cơ cấu của chính
quyền địa phương thì việc thực hiện nhiệm vụ giám sát lại càng trở nên quan
trọng hơn. Vì vậy, trong việc thực hiện hoạt động giám sát của nhân dân cần có
các cơ chế cụ thể nhằm tăng cường và phát huy vai trò giám sát của các chủ thể
giám sát đại diện cho người dân địa phương như đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân thành phố, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội trên
địa bàn. Đặc biệt là tăng cường hoạt động giám sát trực tiếp của người dân
thông qua các hoạt động như phán ánh, kiến nghị, đề xuất, nêu ý kiến, thực hiện
các quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được gặp gỡ đối thoại trực tiếp với các
thành viên Ủy ban nhân dân đối với các việc liên quan đến quyền lợi và lợi ích
của mình. Đồng thời thông qua việc phát huy vai trò của các phương tiện thông
tin đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền thanh, truyền hình, mạng internet
mà nhân dân có thể vừa giám sát, vừa phản ánh kịp thời các vấn đề mà người dân
quan tâm đến chính quyền địa phương. Ngoài ra, cần bổ sung thêm các quy định về
chế tài hậu giám sát để đảm bảo cho Ủy ban nhân dân thực hiện theo đúng chức
trách, nhiệm vụ được giao, tránh trường hợp Ủy ban nhân dân chủ quan, lơ là trong
hoạt động khi không có Hội đồng nhân dân giám sát.
Như vậy, có
thể nói, việc thí điểm xây dựng chính mô hình chính quyền đô thị tại 03 thành
phố Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh đã có rất nhiều các bước đột phá
so với mô hình của chính quyền địa phương ở các tỉnh và thành phố khác trong cả
nước. Việc thực hiện thí điểm này sẽ giúp chúng ta có thêm được những kinh
nghiệm vô cùng quý báu trong việc xây dựng chính quyền địa phương trong giai
đoạn hiện nay, góp phần to lớn và công cuộc xây dựng bộ máy pháp quyền xã hội
chủ nghĩa và hoạt động cải cách hành chính nhà nước mà toàn đảng, toàn dân ta
đang tích cực thực hiện./.