MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ TỔNG KẾT THỰC TIỄN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH KHÁNH HÒA ĐẠT CHUẨN
ThS. Trần Thị Lệ Thủy
GV. Khoa Lý luận cơ sở
Nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ
quan trọng của Trường Chính trị cấp tỉnh, gắn trực tiếp với công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu lý luận và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ lãnh
đạo, quản lý ở địa phương. Trong bối cảnh xây dựng Trường Chính trị chuẩn, hoạt
động này cần hướng mạnh vào chất lượng sản phẩm, khả năng ứng dụng vào giảng
dạy, tổng kết thực tiễn và tham mưu chính sách.
Đối với Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa, sau khi hợp
nhất và triển khai Đề án số 09-ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng
Trường đạt chuẩn giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu nâng cao chất lượng nghiên cứu
khoa học và tổng kết thực tiễn càng trở nên cấp thiết. Đây là điều kiện quan
trọng để Trường hoàn thiện các tiêu chí chuẩn, phát triển đội ngũ giảng viên,
gắn lý luận với thực tiễn địa phương và phục vụ tốt hơn nhiệm vụ chính trị của
tỉnh.
1. Sự cần thiết nâng
cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn trong xây
dựng Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa
đạt chuẩn
Thứ nhất, sự cần thiết này xuất phát từ chức năng, nhiệm
vụ của Trường Chính trị cấp tỉnh. Theo Quy định số 393-QĐ/TW ngày 05/01/2026
của Ban Bí thư, Trường Chính trị tỉnh, thành phố có chức năng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở địa phương; đồng thời
tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ
thống chính trị ở địa phương. Quy định này cũng xác định nhiệm vụ của Trường
Chính trị là tổ chức nghiên cứu khoa học phục vụ giảng dạy, học tập, góp phần
cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện và tổ chức thực hiện
chủ trương, chính sách của đảng bộ, chính quyền địa phương.
Thứ hai, yêu cầu này xuất phát từ tiêu chí xây dựng
Trường Chính trị chuẩn. Theo Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Ban Bí
thư, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn là một tiêu chí quan trọng để đánh
giá, công nhận Trường Chính trị chuẩn. Tiêu chí này không chỉ đặt ra yêu cầu về
số lượng đề tài, hội thảo, tọa đàm, bài viết, bản tin, sách, báo cáo kiến nghị,
mà còn đòi hỏi kết quả nghiên cứu phải có chất lượng, có khả năng ứng dụng,
chuyển giao, phục vụ đào tạo, bồi dưỡng và tham mưu chính sách. Vì vậy, muốn
đạt chuẩn và duy trì chuẩn một cách bền vững phải nâng cao đồng bộ cả
số lượng, chất lượng và giá trị sử dụng của các sản phẩm nghiên cứu khoa học,
tổng kết thực tiễn. Đề án số 09-ĐA/TU ngày 29/4/2026 về xây dựng Trường Chính
trị tỉnh Khánh Hòa đạt chuẩn, giai đoạn 2026 - 2030 đã xác định mục tiêu xây
dựng Trường đạt chuẩn mức 1 vào quý IV/2026, phấn đấu đạt chuẩn mức 2 trước năm
2030, trong đó có tiêu chí về nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.
Thứ ba, thực tiễn công tác nghiên cứu khoa học và tổng
kết thực tiễn của Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa thời gian qua đã đạt nhiều
kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho quá trình xây dựng Trường đạt
chuẩn. Từ năm 2021 đến nay, Trường đã thực hiện 03 đề tài cấp cơ sở được hỗ trợ
kinh phí sự nghiệp khoa học tỉnh, 23 đề tài khoa học cấp trường được nghiệm thu
mức “Đạt” trở lên; thực hiện 02 đề tài khoa học cấp tỉnh; tham mưu Ban Thường
vụ Tỉnh ủy ban hành 03 đề án; tổ chức 31 hội thảo, tọa đàm, trong đó có 06 hội
thảo/tọa đàm khoa học cấp tỉnh, 02 hội thảo cấp bộ; xuất bản 05 cuốn sách tham
khảo, chuyên khảo và 27 số bản tin “Thông tin Lý luận và thực tiễn”.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác nghiên
cứu khoa học và tổng kết thực tiễn vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Ở
chuẩn mức 1, Trường đã đạt 07/07 chỉ tiêu; nhưng ở
chuẩn mức 2, tiêu chí nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn mới đạt 06/08 chỉ
tiêu, còn thiếu chỉ tiêu về số lượng đề tài cấp tỉnh hoặc tương đương và số
lượng bài báo khoa học của giảng viên theo chức danh. Một
số sản phẩm nghiên cứu còn thiên về hoàn thành nhiệm vụ, chưa rõ địa chỉ ứng
dụng, chuyển giao hoặc phản hồi sau sử dụng; hoạt động tổng kết thực tiễn có
lúc còn dừng ở mô tả tình hình, chưa đi sâu phân tích mô hình, nguyên nhân,
điều kiện nhân rộng và kiến nghị chính sách. Những hạn chế này xuất phát từ
nhiều nguyên nhân như: cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học chưa thật sự rõ nét;
năng lực phương pháp nghiên cứu, xử lý dữ liệu, viết báo cáo kiến nghị của một
bộ phận viên chức còn hạn chế; việc phối hợp với cơ quan, địa phương trong phát
hiện vấn đề thực tiễn chưa thường xuyên; điều kiện thời gian, kinh phí, dữ liệu
và công cụ hỗ trợ nghiên cứu còn chưa đáp ứng đầy đủ. Do đó, cần có các giải pháp
cụ thể, sát thực hơn để nâng cao chất lượng hoạt động này trong giai đoạn tới.
2. Một số giải pháp
nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn tại Trường Chính
trị tỉnh Khánh Hòa
Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình đề xuất, đặt hàng và triển
khai nhiệm vụ khoa học theo hướng dẫn của cơ quan quản lý khoa học và công
nghệ. Đối với các nhiệm vụ cấp tỉnh, Trường cần bám
sát hướng dẫn của Sở Khoa học và Công nghệ về đề xuất, đặt hàng nhiệm vụ khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2026, cũng như chuỗi nhiệm vụ, cụm nhiệm
vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. Trên cơ sở đó, chủ
động xây dựng ngân hàng ý tưởng, hồ sơ đề xuất nhiệm vụ cấp tỉnh, cấp trường và nhiệm vụ
đặt hàng từ đầu năm; ưu tiên các vấn đề thuộc lĩnh vực xây dựng Đảng, hệ thống
chính trị, chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính, chuyển đổi số,
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở.
Thứ hai, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, tổng
kết thực tiễn và trách nhiệm học thuật của đội ngũ viên chức, giảng viên. Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Tổng Bí thư Tô
Lâm đã nhấn mạnh: phải coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là
động lực chủ chốt. Đây chính là “chìa khóa vàng”, là yếu tố sống còn để vượt
qua bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu, đồng thời hiện thực hóa khát
vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộc ta. Tinh thần đó đặt ra yêu cầu mỗi
viên chức, giảng viên Trường Chính trị không chỉ tham gia nghiên cứu để hoàn
thành định mức, mà phải xem nghiên cứu khoa học là phương thức nâng cao năng
lực nghề nghiệp. Trường cần tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn, thực hành trực tiếp
về lựa chọn vấn đề nghiên cứu, thiết kế công cụ khảo sát, xử lý dữ liệu, viết
bài báo khoa học, viết báo cáo kiến nghị và tổng kết mô hình thực tiễn. Đồng
thời, cần đề cao liêm chính khoa học, trích dẫn đúng quy định, trung thực trong
sử dụng dữ liệu, không sao chép, không hình thức hóa kết quả nghiên cứu.
Thứ ba, hình thành “ngân hàng vấn đề thực tiễn” và
các nhóm nghiên cứu theo chuỗi nhiệm vụ. Thay vì
lựa chọn đề tài riêng lẻ, ngắn hạn, Nhà trường cần xây dựng cơ chế thu thập vấn
đề từ xã, phường, đặc khu, sở, ngành, ban xây dựng Đảng, cựu học viên và các
lớp đào tạo, bồi dưỡng. Các vấn đề này được phân loại thành nhóm chủ đề như xây
dựng Đảng ở cơ sở, vận hành chính quyền địa phương hai cấp, quản trị đô thị -
nông thôn, chuyển đổi số cấp xã, phát triển kinh tế biển, bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng. Trên cơ sở ngân hàng vấn
đề thực tiễn, Nhà trường thành lập các nhóm nghiên cứu liên khoa, mỗi nhóm theo
đuổi một chuỗi sản phẩm gồm: báo cáo khảo sát, bài viết khoa học, tình huống
giảng dạy, tọa đàm chuyên đề, báo cáo kiến nghị và đề xuất nhiệm vụ cấp cao
hơn. Cách làm này giúp nghiên cứu có tính kế thừa, có dữ liệu tích lũy và gắn
chặt hơn với nhu cầu thực tiễn.
Thứ tư, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm
nghiên cứu và tăng cường ứng dụng, chuyển giao kết quả. Mỗi nhiệm vụ nghiên cứu cần xác định sản phẩm đầu ra ngay từ khâu
đề xuất, không chỉ là báo cáo tổng hợp mà còn có thể là bài viết khoa học,
chuyên đề giảng dạy, tình huống thảo luận, tài liệu bồi dưỡng, báo cáo kiến
nghị, mô hình dữ liệu hoặc sản phẩm chuyển giao. Việc nghiệm thu cần chú trọng
tính mới, tính khoa học, độ tin cậy của dữ liệu, chiều sâu phân tích, địa chỉ
ứng dụng và khả năng chuyển hóa kết quả vào giảng dạy, quản lý, đào tạo, bồi
dưỡng, tham mưu chính sách. Đối với sản phẩm có giá trị thực tiễn, Trường phối hợp với các cơ quan, đơn
vị, địa phương liên quan, đồng thời theo dõi phản hồi để hoàn thiện và làm căn
cứ đánh giá hiệu quả sau chuyển giao.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, lưu
trữ, khai thác dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Trường
cần cụ thể hóa việc xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học dùng chung bằng cách giao
một đầu mối chủ trì rà soát, phân loại, số hóa toàn bộ hồ sơ, sản phẩm nghiên
cứu khoa học và tổng kết thực tiễn hiện có theo từng nhóm: đề tài, hội thảo,
tọa đàm, báo cáo tổng kết thực tiễn, báo cáo kiến nghị, bài viết, sách, kỷ yếu,
bản tin, sản phẩm chuyển giao và dữ liệu khảo sát. Đồng thời, cần thống nhất
mẫu nhập liệu cho từng sản phẩm, gồm các thông tin cơ bản như tên sản phẩm, tác
giả, đơn vị thực hiện, thời gian hoàn thành, tóm tắt nội dung, kết quả nghiệm
thu, địa chỉ ứng dụng, minh chứng chuyển giao, từ khóa tra cứu và file đính kèm, phân quyền rõ trách
nhiệm cập nhật, quản lý, khai thác dữ liệu.