CHÚC MỪNG 101 NĂM NGÀY BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM (21/6/1925 – 21/6/2026) 

 







Độ ẩm:
Sức gió:
[Đăng ngày: 26/06/2023]

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ CAO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KHÁNH VĨNH

ThS. Tô Thị Hải Quyên
Phó trưởng khoa Lý luận cơ sở

 

Hiện nay cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, việc ứng dụng những thành tựu của nó vào trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là tất yếu khách quan. Theo đó, xu hướng phát triển ngành nông nghiệp (NN) hiện nay ở Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng là ứng dụng công nghệ cao (CNC) vào sản xuất góp phần phát triển nền NN hàng hóa, giảm chi phí, tăng năng suất, sản lượng, cải thiện thu nhập cho các nông hộ; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường; thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương.

Khánh Vĩnh là huyện miền núi của tỉnh Khánh Hòa, NN vẫn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện. Thời gian vừa qua, để nâng cao giá trị các sản phẩm NN, chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm thực hiện cơ cấu lại ngành NN theo hướng phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) và lợi thế của địa phương như: điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030; Đề án chuyển đổi cơ cấu ngành NN theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2025, định hướng đến năm 2030… Đồng thời, triển khai các biện pháp đẩy mạnh việc chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ (KHCN) vào sản xuất NN, từng bước góp phần làm thay đổi tư duy và phương pháp tổ chức sản xuất của người nông dân. Nhờ đó, lĩnh vực sản xuất NN ứng dụng CNC đã thu hút sự tham gia đầu tư của các hộ sản xuất NN trên địa bàn huyện. Từ chỗ bà con nông dân chỉ biết trồng trọt, chăn nuôi theo kinh nghiệm, đến nay nhiều hộ nông dân đã biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu của quá trình sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình, tiến tới hình thành và phát triển các trang trại, vùng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ…, qua đó tạo bước chuyển biến tích cực trong sản xuất NN.

Theo số liệu của phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thông huyện cung cấp, tính đến năm 2022, đã có khoảng 67 hộ sản xuất NN tham gia mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP trong tổng số 9261 hộ sản xuất NN trên địa bàn huyện.

Có thể khẳng định, sự phát triển của kinh tế hộ (KTH) theo hướng ứng dụng CNC đã và đang đóng góp ngày càng tích cực vào thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện như giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ NN, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và cung ứng đầu vào lương thực, thực phẩm phục vụ khu vực công nghiệp, dịch vụ, du lịch của địa phương. Cụ thể ở bảng dưới đây:

Năm

Số hộ nghèo

(Hộ)

Thu nhập bình quân đầu người

(Triệu đồng/người/năm)

Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp

(Tỷ đồng)

Cơ cấu giá trị sản phẩm nông nghiệp

(%)

2020

2.369

22,6

448,3

38,51

2021

4.831

22,4

486,7

41,1

2022

4.231

24,8

561,1

34,8

Trong thời gian tới, để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của KTH trong sản xuất NN ứng dụng CNC, cần tập trung thực hiện những nhóm giải pháp sau:

1. Nhóm giải pháp phát huy vai trò của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đối với phát triển kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh

Thứ nhất, công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch nhằm phát triển kinh tế hộ trong sản xuất NN ứng dụng CNC

Trên cơ sở Quy hoạch phát triển ngành NN của Quyết định 386/QĐ-UBND năm 2017 điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025, có tầm nhìn đến năm 2030: Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành, xây dựng cơ cấu hợp lý giữa sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp, trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ NN, gắn phát triển NN với công nghiệp chế biến và phát triển ngành nghề nông thôn, xây dựng các mô hình canh tác tối ưu để gia tăng giá trị sản lượng và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích sản xuất NN. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành các vùng chuyên canh phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của địa phương, gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ”, các cấp chính quyền ở địa phương cần tiếp tục rà soát lại quy hoạch phát triển sản xuất ngành, lĩnh vực sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển sản xuất NN của huyện, nhất là các sản phẩm chủ lực gắn với việc đẩy mạnh ứng dụng CNC. Sau khi đã được phê duyệt, phương án quy hoạch cần được công khai và kiểm tra, giám sát thường xuyên. Đồng thời, chính quyền các xã và thị trấn phải nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác quy hoạch ngành NN trên địa bàn để tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung quy hoạch phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa phương trên địa bàn.

Cùng với việc hoàn thiện quy hoạch các khu, vùng NN ứng dụng CNC, việc nghiên cứu xây dựng quy hoạch các sản phẩm chủ lực trên cơ sở lợi thế và thế mạnh của từng xã và thị trấn phải phù hợp với quy hoạch chung của huyện. Quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ lực trong sản xuất NN ứng dụng CNC cần gắn với nhu cầu thị trường trong tỉnh và cả nước, phù hợp với điều kiện hiện có của địa phương, mặt khác phải đảm bảo sự thống nhất trong vùng tránh tình trạng các địa phương xây dựng quy hoạch các sản phẩm chủ lực tương đồng nhau dẫn đến cạnh tranh trong thu hút đầu tư cũng như giải quyết đầu ra cho sản phẩm.

Xây dựng quy hoạch về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng về giao thông và thủy lợi, hạ tầng phục vụ sản xuất theo hướng hiện đại, đảm bảo đáp ứng các điều kiện cho thu hút đầu tư vào NN ứng dụng CNC. Hệ thống thuỷ lợi, giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, quanh các vùng nguyên liệu tập trung. Đồng thời, tăng cường liên kết theo các hiệp hội ngành hàng để điều phối sản xuất và lưu thông hàng hóa nông sản thuận lợi. Tiến tới xây dựng các cụm sản xuất nông sản theo hướng CNC.

 Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cung cấp kịp thời thông tin thị trường để phát triển kinh tế hộ trong sản xuất NN ứng dụng CNC

Thông qua Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện, hệ thống trạm truyền thanh các xã và hệ thống cán bộ cơ sở... đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến các nông hộ nắm được chủ trương, định hướng, cơ chế chính sách đổi mới trong phát triển nông nghiệp để tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản một cách có hiệu quả. Thường xuyên đưa tin, tuyên truyền về các mô hình thành công, các kinh nghiệm, cách làm hay, sáng tạo trong sản xuất để hướng dẫn cho các hộ nông dân học tập, vận dụng vào sản xuất.

Trong quá trình tuyên truyền, các địa phương, cơ quan, đơn vị bám sát quan điểm, mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao thu nhập cho nông dân, giảm nghèo và phát triển bền vững. Tùy theo điều kiện cụ thể, mỗi địa phương thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch, lựa chọn một số sản phẩm chính có lợi thế trên thị trường để ưu tiên phát triển.

Tăng cường sự giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp, phát huy vai trò nòng cốt của các đoàn thể chính trị trong tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn. Nâng cao năng lực tổ chức quản lý và hoạt động của hợp tác xã, tổ hợp tác nông nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ nông nghiệp đầu vào, đầu ra, chế biến nông sản sau thu hoạch và tiếp cận thị trường cho các thành viên.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chú trọng đổi mới cải cách hành chính đối nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế hộ trong sản xuất NN ứng dụng CNC

Chính quyền địa phương đẩy mạnh việc cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa, công khai hóa các thủ tục liên quan đến các chính sách ưu đãi để bảo đảm thuận lợi nhất cho KTH trong sản xuất NN ứng dụng CNC phát triển; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, quán triệt nội dung chương trình phát triển sản xuất NN theo hướng CNC trên địa bàn huyện để tập trung huy động nhân lực, tài lực của địa phương, cũng như thu hút đầu tư từ địa phương khác trong tỉnh vào quá trình phát triển lĩnh vực NN ứng dụng CNC của địa phương.

Tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý, cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc, nâng cao năng lực hoạt động. Đặc biệt chú trọng việc xây dựng, hoàn thiện nguyên tắc làm việc và quy chế phối hợp trong hệ thống bộ máy quản lý. Từ đó, chấm dứt tình trạng vừa chồng chéo, vừa bỏ sót nhiệm vụ, lĩnh vực, đối tượng quản lý, bảo đảm tính đồng bộ trong vận hành của cả hệ thống quản lý, giúp tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với các hộ kinh doanh trong NN trên địa bàn. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin một cách toàn diện, đồng bộ trong giải quyết thủ tục hành chính. Thực hiện công khai, minh bạch về quy hoạch, thủ tục hành chính và chính sách thu hút đầu tư.

Các sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở Tài chính, sở Kế hoạch và đầu tư phối hợp với ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện cập nhật thường xuyên, công khai các nguồn vốn đầu tư chính thống, đặc biệt nguồn vốn vay ưu đãi trong NN và phát triển nông thôn từ Trung ương, từ các quỹ đầu tư phát triển của các tổ chức trong nước. Từ đó cung cấp các thông tin về thủ tục vay vốn, đồng thời sẽ hướng dẫn các hộ nông dân trên địa bàn có thể tiếp cận với các nguồn vốn này.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cùng với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện cần giải quyết nhanh chóng thủ tục cấp đất cho các hộ gia đình có nhu cầu đất để xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân nói chung. Cần tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh quá trình dồn điền, đổi thửa, đất sản xuất NN, xây dựng chính sách cho phép và khuyến khích tích tụ ruộng đất một cách hợp pháp đối với các nông hộ có kinh nghiệm sản xuất NN.

Thứ tư, cơ chế, chính sách hỗ trợ để thu hút các hộ nông dân đầu tư vào NN ứng dụng CNC, đồng thời khuyến khích các hộ NN đăng ký thành lập doanh nghiệp NN

Đối với chính sách đất đai: thực hiện hiệu quả Nghị định số 62/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. Tạo điều kiện để hộ gia đình tích tụ ruộng đất hình thành vùng sản xuất lớn theo quy định của Luật Đất đai.

Đối với thời hạn giao đất NN cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đã kéo dài từ 20 năm lên 50 năm, đã tạo điều kiện khuyến khích cho nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm sản xuất.

Các chính sách hỗ trợ cho các hộ gia đình, các đơn vị đầu tư sản xuất NN và chuyển đổi cơ cấu cây trồng như: Nghị định số 52/2018/NĐ-CP, ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào NN nông thôn; Nghị định số 77/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ về Quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tưới tiết kiệm nước; Nghị định số 98/NQ-CP ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm NN; Nghị định số 53/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ về Giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào NN, hiệu quả, an toàn và bền vững và một số cơ chế, chính sách của tỉnh.

Chính sách hỗ trợ vốn: Các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình cá nhân tiếp cận được nguồn vốn và hưởng chính sách ưu đai về lãi xuất để đầu tư phát triển sản xuất trong lĩnh vực NN nông thôn trên địa bàn huyện. Cần nhanh chóng triển khai gói tín dụng ưu đãi dành hộ nông dân có điều kiện ứng dụng CNC. Đơn giản thủ tục hành chính để tạo điều kiện cho họ dễ dàng vay vốn. Bên cạnh đó, đối với dự án NN ứng dụng CNC cần có cơ chế cho vay trọn gói, không cho vay theo từng giai đoạn, vì mỗi tổ chức tín dụng có một mục tiêu khác nhau, nếu ngân hàng này cho vay, ngân hàng kia chưa cho vay thì dự án khó triển khai. Đồng thời, cho phép các dự án NN ứng dụng CNC được cấp tín dụng theo yêu cầu, không phải tuân theo quy định một khách hàng không được vay quá 15 % vốn tự có của ngân hàng hiện nay. Bởi đặc thù của các dự án NN ứng dụng CNC là cần nhiều vốn, quy mô lớn, thời gian kéo dài và thu hồi chậm. Trong khi đa phần các tổ chức tín dụng trong huyện và tỉnh quy mô nhỏ, nguồn vốn ít, nếu cho vay như quy định trên thì một ngân hàng không đủ vốn theo tỷ lệ quy định để đáp ứng cho một dự án lớn.

Chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất nông nghiệp là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả đóng góp của KTH trong NN đối với quá trình phát triển KT-XH của huyện. Do vậy, cần có cơ chế khuyến khích và hỗ trợ bộ phận kinh này trong việc phát triển nguồn nhân lực. Cụ thể:

Một là, cần tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn 2021 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Trong quá trình đào tạo người lao động trong lĩnh vực sản xuất NN ứng dụng CNC cần phải có sự liên kết chặt chẽ và hỗ trợ của các cơ sở đào tạo để chủ động đưa ra những yêu cầu về trình độ chuyên môn của nguồn lao động, từ đó các cơ sở đào tạo có thể xây dựng chương trình, nội dung đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tế. Muốn vậy, cần tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề; phối hợp tốt với Trường Trung cấp nghề để ưu tiên đào tạo các nghề phục vụ trực tiếp các chương trình nông nghiệp của huyện, đặc biệt nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đồng thời, làm tốt việc khảo sát, dự báo nhu cầu học nghề của lao động để có phương án dạy nghề cho lao động nông thôn.

Hai là, nghiên cứu, ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ tay nghề, kiến thức cho nông dân nhằm đủ khả năng nắm bắt thông tin thị trường, pháp lý, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ. Về lâu dài, huyện cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho NN CNC với những bước đi và lộ trình cụ thể, gắn với nhu cầu thị trường lao động. Đưa nội dung NN CNC vào đào tạo nghề trên địa bàn huyện, gắn đào tạo với thực tiễn triển khai những khu, vùng NN CNC. Đẩy mạnh hợp tác đào tạo nhân lực cho phát triển NN CNC ở địa phương.

Ba là, lựa chọn đúng đối tượng học nghề, đủ điều kiện áp dụng kiến thức nghề sau khi học, góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập cho người dân nông thôn. Mở rộng mạng lưới dạy nghề, triển khai các chương trình đào tạo nghề cho học sinh dân tộc, vùng nông thôn;

Chính sách hỗ trợ phát triển việc ứng dụng khoa học công nghệ: đẩy nhanh thực hiện các dự án, chương trình hỗ trợ phát triển NN, nông thôn. Trong đó, chú trọng công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, thu hoạch, bảo quản và chế biến nông sản hàng hóa, đặc biệt là công nghệ sinh học, CNC về giống cây con và áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất theo hướng xây dựng nền NN kỹ thuật cao, an toàn vệ sinh thực phẩm; áp dụng đồng bộ quy trình hoàn chỉnh, từng bước nâng cao trình độ sản xuất của nông dân và hướng tới mục tiêu sản xuất, tiêu thụ theo hợp đồng, theo tiêu chuẩn (ViệtGAP), có sức cạnh tranh cao.

Chính sách hỗ trợ các hộ nông dân có khả năng chuyển đổi thành trang trại, doanh nghiệp để có điều kiện ứng dụng CNC vào sản xuất NN. Để khuyến khích các hộ cá thể chuyển đổi thành trang trại và doanh nghiệp, chính quyền địa phương cần phối hợp với các sở ban ngành trong tỉnh xây dựng chuyên mục hỗ trợ doanh nghiệp mới thành lập với các nội dung, tài liệu hướng dẫn quy trình thủ tục thuế, từ việc ghi chép, lưu trữ sổ sách kế toán, chứng từ đến thông báo phát hành hóa đơn, đăng ký mã số thuế, kê khai thuế. Đồng thời hạn chế tối đa việc thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp và chỉ thực hiện tối đa 1 lần/năm; có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thứ năm, đổi mới các hình thức liên kết nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa của các hộ sản xuất NN

Liên kết nhằm thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ nông sản là mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất NN, góp phần xây dựng nền NN hàng hóa, nâng cao thu nhập cho nông dân. Để nâng cao sức cạnh tranh của bộ phận KTH trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, cần chú trọng mở rộng liên kết kinh tế giữa hộ sản xuất NN với các bộ phận khác trong thành phần KTTN và các thành phần kinh tế khác và liên kết vùng một cách có hiệu quả.

Trong quá trình thực hiện tái cơ cấu NN, xây dựng nông thôn mới, toàn huyện đã hình thành đượcnhững chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản, bước đầu mang lại hiệu quả khá cao. Điển hình là Mô hình chuỗi cung cấp trái cây tại Tổ hợp tác sản xuất trái cây an toàn Khánh Vĩnh, với 1.500 tấn/năm gồm xoài, sầu riêng, bưởi da xanh. Tuy nhiên, thực tế vận hành các liên kết này đã phát sinh nhiều khó khăn cần có giải pháp tháo gỡ để đảm bảo sự bền vững, đặc biệt là việc phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Bởi lẽ, chính quyền địa phương là cấp gần dân nhất, mọi vấn đề trong đời sống, sinh hoạt, tư tưởng của nhân dân đều được phản ánh và giải quyết đầu tiên tại đây.

Một là, chính quyền địa phương là tổ chức đại diện cho người nông dân làm trung gian cho các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm. Do đó, chính quyền địa phương phải làm tốt công tác tuyên truyền các chủ trương của Ðảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa, xây dựng các chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản; định hướng tổ chức sản xuất tại địa phương, hoàn thiện hạ tầng vùng sản xuất; tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, ý thức của người dân khi tham gia vào các chuỗi liên kết.

Hai là, chính quyền địa phương phải tạo điều kiện về cơ chế, liên hệ với các sở, ngành chức năng để tìm kiếm nguồn đầu tư từ các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất; hợp tác xã dịch vụ NN có trách nhiệm tập hợp nông dân, tập trung ruộng đất, thống nhất phương án sản xuất, phân chia lợi nhuận. Hợp tác xã đại diện cho nông dân khi giao dịch với doanh nghiệp để đảm bảo thống nhất đầu mối, thương thảo điều kiện theo quyền lợi của người sản xuất giúp người dân yên tâm góp công, góp của tạo vùng sản xuất lớn.

Ba là, vai trò của chính quyền địa phương được thể hiện rõ qua việc đảm bảo quyền lợi cho người dân khi hợp đồng kinh tế bị vi phạm. Do thị trường biến động làm cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc trả tiền cho người dân không đúng hợp đồng trong một thời gian dài khiến người dân bức xúc. Chính quyền địa phương phải tìm hiểu thực tế tình hình doanh nghiệp; những khúc mắc giữa doanh nghiệp và người dân để làm công tác tư tưởng với người dân, ngăn chặn phát sinh mâu thuẫn gây hệ lụy xấu cho liên kết, vừa làm việc với doanh nghiệp gia hạn thanh toán theo phương châm ưu tiên giải quyết hợp đồng với nông dân. Với sự vào cuộc tích cực, có lý, có tình của chính quyền địa phương, các hộ dân tham gia mô hình liên kết yên tâm cho doanh nghiệp kéo dài thời gian trả nợ và tiếp tục hợp tác với doanh nghiệp cho những mùa vụ sau.

Tóm lại, để tiếp tục duy trì và phát triển các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản, chính quyền địa phương cần quan tâm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hỗ trợ khâu tổ chức sản xuất, xây dựng thương hiệu; tập huấn trang bị kiến thức, kỹ năng cho người dân về sản xuất theo hợp đồng, tăng cường hợp tác làm việc theo tổ, nhóm để thuận lợi điều hành, quản lý và tăng cường vai trò quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện hợp đồng, thẩm định hợp đồng tốt, hạn chế tối đa xảy ra vi phạm hợp đồng, đặc biệt là bảo vệ quyền lợi người sản xuất trong các trường hợp phát sinh tranh chấp.

Thứ sáu, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các hộ NN

Về xây dựng thương hiệu: Muốn xây dựng được thương hiệu mạnh, trước hết mỗi sản phẩm nông nghiệp của các hộ trên địa bàn huyện phải đạt được đến một khối lượng đủ lớn, bảo đảm chất lượng đồng đều, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm và ổn định theo yêu cầu thị trường; giá bán mang tính cạnh tranh, kênh phân phối phải đảm bảo lợi ích hài hòa, hợp lý của tất cả các chủ thể tham gia vào chuỗi giá trị hàng hóa. Do đó, cần thực hiện những

Một là, xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất tập trung theo quy mô lớn, sản xuất nông nghiệp phải kết hợp với công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn.

Hai là, tăng cường mối quan hệ thông tin giữa những người nông dân trực tiếp sản xuất với các nhà khoa học: Việc hỗ trợ, cung cấp giống các loại nông sản độc đáo, chất lượng cao, không chỉ đem đến lợi ích không chỉ cho người nông dân mà còn cho các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và góp phần thúc đẩy nghiên cứu, cải tiến giống mới.

Ba là, đầu tư cho nghiên cứu thị trường nhằm tạo ra sản phẩm phù hợp đáp ứng đúng nhu cầu thị trường. Xây dựng các quy chuẩn cho sản phẩm nhằm bảo đảm về tính minh bạch của quy trình sản xuất, cần phải chứng minh rõ nguồn gốc, cơ sở sản xuất, quy trình chế biến,… đây chính là giấy thông hành cần thiết cho hàng nông sản.

Bốn là, các thương hiệu mới có thể liên kết với các thương hiệu đã có tên tuổi nhằm tận dụng sự hỗ trợ về vốn, công nghệ, kỹ thuật để thâm nhập và nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình trên thị trường.

Về phát triển thị trường tiêu thụ: Sản xuất NN ứng dụng CNC nếu thành công sẽ mang lại những bước nhảy vọt về năng suất, có thể gấp rất nhiều lần so với các phương pháp sản xuất truyền thống. Do vậy, các hộ sản xuất NN trên địa bàn huyện phải tính toán thị trường đầu ra và lựa chọn công nghệ phù hợp, có khả năng tạo và tăng giá trị sản phẩm, tránh trường hợp được mùa thì mất giá như vừa xảy ra với sản phẩm Bưởi da xanh. Bên cạnh đó, khi áp dụng CNC trong sản xuất NN, thông thường giá thành sản phẩm sẽ cao hơn nên các chủ thể sản xuất cũng cần quan tâm đến khả năng chấp nhận của người tiêu dùng. Vì vậy, vấn đề thông tin dự báo thị trường có ý nghĩa hết sức quan trọng cho hộ nông dân sản xuất NN ứng dụng CNC, do đó, cần làm tốt công tác này. Để tạo thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định cho sản phẩm nông sản của địa phương cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và sự chia sẻ của các hộ nông dân trên địa bàn huyện. muốn vậy, cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau:

Một là, sử dụng hiệu quả thương hiệu Bưởi da xanh Khánh Vĩnh đã được đăng ký nhãn hiệu sản phẩm hàng hóa; tiếp tục hoàn thiện hồ sơ để đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc trưng của địa phương (chương trình Mỗi xã một sản phẩm - OCOP) cho các sản phẩm khác như: Sầu riêng, Mít, Chuối trong giai đoạn 2021-2025. Hoàn thiện các quy trình chuẩn về trồng, chăm sóc, bảo quản trái cây theo tiêu chuẩn VietGap, GlobalGap… từ đó hướng đến xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

Hai là, tích cực quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản của địa phương thông qua trang thông tin điện tử của huyện, tổ chức hướng dẫn và hỗ trợ các hộ tham gia hội trợ triển lãm định kỳ trong lĩnh vực NN, hội nghị xúc tiến đầu tư do huyện, tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh thành khác tổ chức nhằm giúp cho các hộ tìm kiếm thị trường, bạn hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng bá thương hiệu, tiếp cận thông tin,...

Ba là, liên kết và ký kết các hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các doanh nghiệp chế biến nông sản, các siêu thị, chợ đầu mối, các đại lý thu mua nông sản trong và ngoài tỉnh để tạo đầu ra ổn định cho nông sản địa phương như: liên kết liên hệ với hệ thống siêu thị Vinmax, Coopmax, Big C trong và ngoài tỉnh…

Bốn là, thu hút đầu tư xây dựng Trung tâm quảng bá giới thiệu hàng nông sản Khánh Vĩnh tại thị trấn Khánh Vĩnh, các khu du lịch, điểm dừng chân (khu du lịch công viên sinh thái thác Yang Bay (Khánh Phú), suối khoáng nóng Khánh Thành, thác Ziông (xã Khánh Trung), suối khoáng nóng Khánh Hiệp (xã Khánh Hiệp), Suối Mẫu, Đá Dài (xã Khánh Thượng), khu du lịch tiếng Đá, Suối Lách, thác Yang Ly (xã Giang Ly), điểm du lịch sinh thái Hòn Giao, điểm dừng chân Bến Lội ven đường đèo Khánh Lê - Lâm Đồng (xã Sơn Thái),... để làm đầu mối tiêu thụ nông sản cũng như quảng bá các sản phẩm nông sản của địa phương với khách du lịch trong và ngoài tỉnh.

Thứ bảy, khuyến khích các hộ phát triển sản xuất NN ứng dụng CNC kết hợp với phát triển du lịch sinh thái

Với Nghị quyết số 09 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 55 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển tỉnh Khánh Hòa, huyện miền núi Khánh Vĩnh đang có cơ hội lớn để hướng đến mục tiêu trở thành tiểu đô thị sinh thái núi rừng trong tương lai. Do đó, phát triển NN ứng ụng CNC kết hợp phát triển du lịch sinh thái đang là hướng đi mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Phát triển KTH trong NN ứng dụng CNC phải gắn kết mật thiết với việc hình thành các sản phẩm đặc sản nông nghiệp đặc trưng của địa phương như: sầu riêng, bưởi, mít nghệ… làm cơ sở để thu hút du khách đến trải nghiệm, tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, cần phải chú trọng phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, lấy lợi ích của cộng đồng dân cư địa phương là trên hết, lấy văn hóa đặc trưng địa phương và thế mạnh để tạo sự khác biệt, thương hiệu riêng cho địa phương.

Phát triển cơ sở vật chất phụ trợ để thu hút được nhiều khách du lịch, kéo dài thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu và khả năng quay trở lại của khách du lịch. Việc thúc đẩy xây dựng cơ sở hạ tầng đảm bảo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch phải gắn liền với thích ứng biến đổi khí hậu và giảm thiểu thiệt hại về thiên tai cho người dân.

Tăng cường quảng bá sản phẩm du lịch nông nghiệp, nông thôn gắn với việc xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp đặc trưng; chú trọng khai thác ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông hiện đại để quảng bá du lịch nông nghiệp, nông thôn, đưa các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng gắn với các địa danh để quảng bá cho du lịch nông nghiệp, nông thôn tại các diễn đàn, hội chợ, hoạt động xúc tiến thương mại.

2. Nhóm giải pháp phát huy vai trò của chủ thể kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh

Trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh, chủ thể của kinh tế hộ (KTH) trong sản xuất NN chính là đội ngũ chủ hộ và người lao động trực tiếp làm NN, đa phần là nông dân. Trình độ công nghệ canh tác, sản xuất của đa số các hộ nông dân nhìn chung còn thấp và số lượng ít, năng suất lao động chưa cao. Sản phẩm chưa tham gia sâu được vào nhiều chuỗi cung ứng các sản phẩm chất lượng cao mà bán thô, sơ chế là chủ yếu. Trong khi đó, quá trình hội nhập quốc tế với cuộc cách mạng 4.0, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ và có tác động toàn diện, sâu sắc đến sản xuất, đời sống, việc làm của nông dân. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quá trình hợp tác, liên kết trong sản xuất NN đòi hỏi chủ thể KTH nông dân ở Khánh Vĩnh phải thay đổi tư duy sản xuất và phương thức quản trị. Để phát huy vai trò của chủ thể KTH trong sản xuất NN đáp ứng yêu cầu tình hình mới cần chú trọng các vấn đề sau:

Một là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của kinh tế hộ trong nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện

Để ứng dụng công nghệ vào sản xuất NN hiện nay, rất cần chú trọng đến việc nâng cao trình độ cho người lao động trong NN:

Chủ thể KTH trên địa bàn huyện cần chủ động tích cực học tập nâng cao trình độ về kỹ thuật sản xuất NN thông qua các qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, vô tuyến, internet; các lớp tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc vườn cây ăn quả, lớp tập huấn về biện pháp kỹ thuật phòng và điều trị một số loại bệnh trên cây bưởi da xanh, xoài, mít và sầu riêng… do Trạm khuyến nông huyện Khánh Vĩnh phối hợp với Trạm trồng trọt và bảo vệ thực vật tổ chức. Qua đó, các kĩ sư nông nghiệp sẽ hướng dẫn cách thức xử lí phân thuốc, điều tiết nước, chăm sóc, tỉa cành, cách phòng chống bệnh phát sinh trên cây ăn quả... Tiến tới xóa bỏ thói quen làm theo kinh nghiệm, tùy tiện bón phân, lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, gây lãng phí, suy thoái đất, ô nhiễm môi trường. Hình thành lớp người lao động có trình độ, có trách nhiệm với sản phẩm làm ra, với người tiêu dùng và thói quen sản xuất NN sạch, NN hữu cơ.

 Bên cạnh đó, đối với đội ngũ chủ hộ cũng cần tự bồi dưỡng kiến thức về quản trị thông qua các lớp đào tạo ngắn hạn không tập trung hoặc tập trung, điều này là rất cần thiết trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường như hiện nay.

Hai là, nâng cao sự chủ động tìm hiểu nghiên cứu thông tin thị trường trong tỉnh, gắn với thị trường trong nước và thị trường ngoài nước

Thị trường trong tỉnh và trên cả nước được xem là còn nhiều tiềm năng, nhu cầu tiêu thụ nông sản chất lượng cao ngày một tăng, nhưng nhìn chung chưa được khai thác. Để tránh tình trạng nhiều mặt hàng nông sản đang bị hàng cùng loại của Trung Quốc lấn sân, hoặc đội lốt hàng Việt đã và đang gây ra những bất lợi rất lớn cho người sản xuất nhằm khai thác được tối đa thị trường trong nước và xa hơn nữa là hướng tới thị trường khu vực và thế giới thì người sản xuất phải nắm bắt được nhu cầu thị trường, để có kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu thực tế. Tránh tình trạng “được mùa rớt giá”, các hộ gia đình trên địa bàn huyện cần theo dõi sát các bản tin thị trường nông sản, tuân thủ sản xuất theo quy hoạch mà chính quyền địa phương đưa ra, phải quen dần với việc làm ăn theo luật, theo quy ước, tránh sản xuất tự phát theo phong trào, sản xuất ồ ạt dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu.

Ba là, chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư và đổi mới trang thiết bị công nghệ theo chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng hàng nông sản

Để các sản phẩm nông sản của huyện có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường trong tỉnh và các tỉnh khác trong nước thì một trong những yêu cầu đối với người sản xuất là phải có ý thức chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đầu tư và đổi mới thiết bị công nghệ theo chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Do đó, cần phải ứng dụng một số công nghệ trong quá trình sản xuất nông sản sẽ giúp nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm như: Công nghệ thông tin giúp quản lý các yếu tố dinh dưỡng đầu vào, quản lý yếu tố môi trường xung quanh đảm bảo phù hợp với yêu cầu của cây trồng; Công nghệ sinh học được ứng dụng trong chọn tạo các giống cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, có sức chống chịu cao giúp giảm giá thành cây giống, tạo ra lô cây giống có độ đồng đều cao, sạch bệnh.

....

 


Các tin khác