TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM - NHÌN TỪ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
Võ Thị Kim Loan
Giảng viên khoa Nhà nước và pháp luật
Tóm tắt: Tự do tôn giáo là vấn đề được Đảng và Nhà nước
Việt Nam quan tâm để thực hiện tốt nhất quyền tự do, dân chủ của Nhân dân, xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài viết tập trung phân tích các quy định
pháp luật cơ bản về bảo đảm tự do tôn giáo và thực tiễn thực hiện quyền tự do
tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, liên hệ một số kết quả tiêu biểu trong thực hiện
công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa.
Từ khóa: tự do tôn
giáo, Việt Nam; thực tiễn.
Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến
đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Nhân dân. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần
thứ XIV, Đảng ta đã nhìn nhận các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc và là nguồn lực xã hội cần được phát huy trong sự nghiệp phát triển
đất nước. Đây là một bước tiến
mới trong tư duy lý luận về tôn giáo để phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững
của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đó là sự khẳng định mạnh mẽ
chủ trương tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tôn giáo của công dân, đồng thời lấy
khối đại đoàn kết toàn dân làm nền tảng để quy tụ sức mạnh từ đồng bào các tôn
giáo vào công cuộc xây dựng quốc gia trong thực tiễn hiện nay.
Sự phát triển về nhận thức của Đảng trong vấn đề tôn giáo được khẳng định
qua từng kỳ đại hội. Đại hội XIV đã thể hiện sự chuyển dịch từ việc coi tôn
giáo đơn thuần là nhu cầu tâm linh của một bộ phận dân cư sang việc nhìn nhận
đây là một nguồn lực xã hội đa diện, bao hàm cả các giá trị văn hóa và chuẩn mực
đạo đức tích cực. Chính sự thay đổi mang tính chiến lược này đã mở ra không
gian để huy động hiệu quả mọi thế mạnh nội sinh của các tổ chức tôn giáo, biến
niềm tin tín ngưỡng thành động lực đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc chủ quyền Tổ quốc.
Cùng với đó Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, sẽ có hiệu lực từ ngày
01/01/2027 với những điểm mới quan trọng, cho thấy, công tác tôn giáo ngày càng
được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và có những biện pháp tích cực, gắn với thực
tiễn và nhu cầu chính đáng của Nhân dân để tôn giáo phát triển lành mạnh, đóng
góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đây là minh chứng mạnh mẽ
cho mối quan tâm của Đảng, Nhà nước trong hoàn thiện pháp luật, tạo hành lang
pháp lý đầy đủ, tiến bộ cho các tôn giáo hoạt động. Nhiều nội dung trong Luật
tín ngưỡng, tôn giáo 2026 có tính mới, tiến bộ so với Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn
giáo 2004, Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016. Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã cụ thể
hóa quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Quyền tự do tôn giáo là quyền
của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ
tuổi, xuất thân... Luật Tín
ngưỡng, tôn giáo mới nhất đã bổ sung quy định các nguyên tắc quản lý hoạt động
tôn giáo trên không gian mạng phù hợp với sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội,
trí tuệ nhân tạo trong mọi lĩnh vực. Cùng với đó, hoạt động quản lý nhà nước về tôn
giáo được đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền cho địa phương trong thực hiện mô hình
chính quyền địa phương hai cấp; cắt giảm các thủ tục hành chính (chuyển từ
"đề nghị" sang "đăng ký" hoặc "thông báo") và hướng
tới minh bạch tài chính. Luật đã giảm các quy định xin, cho, bổ sung các quy định
thông báo như: thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc; thông báo về việc thuyên chuyển chức sắc, chức
việc, nhà tu hành; thông báo cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc,
chức việc; thông báo hoạt động của cơ sở đào tạo tôn
giáo; thông báo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đây cũng là quy định phù hợp với xu hướng
hiện nay nhằm hạn chế sự can thiệp của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo nhưng đồng thời đảm bảo hoạt
động của các tổ chức tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật, có sự quản lý của cơ
quan nhà nước.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là một điểm sáng trong công tác xây dựng
và hoàn thiện thể chế. Nó không chỉ mở rộng hành lang pháp lý bảo vệ quyền tự
do tôn giáo của Nhân dân mà còn tạo ra công cụ sắc bén để quản lý nhà nước hiệu
quả trong kỷ nguyên số, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nghị quyết Đại hội XIV của
Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
trong đó nhấn mạnh: “Bảo đảm, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và
không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ
chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành sống “tốt đời, đẹp
đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động, phong trào
thi đua yêu nước”. Trong
“Sách trắng Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” (năm 2023) do Ban Tôn
giáo Chính phủ công bố thông tin chi tiết về thực trạng tôn giáo tại Việt Nam,
tính đến năm 2023, Việt Nam có 16 tôn giáo đã được công nhận, trong đó có 6 tôn
giáo lớn là Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Tin Lành, Cao Đài và Hòa Hảo
và một số tôn giáo khác như: Baha’i, đạo Ba-la-môn, Bửu Sơn Kỳ Hương, tôn giáo
Mặc Môn… có 26,5 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm 27% dân số cả nước, hơn 54.000
chức sắc, 135.000 chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự.
Trong đó, Phật giáo chiếm số
lượng tín đồ đông nhất với trên 14 triệu tín đồ và 18.544 cơ sở thờ tự. Kế đến
là Công giáo với trên 7 triệu tín đồ và 7.771 cơ sở thờ tự. Lần lượt xếp thứ ba
và thứ tư về số lượng tín đồ là đạo Tin Lành và đạo Cao Đài. Đến tính đến tháng
12/2023, số tín đồ tôn giáo đã đã là 27
triệu, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt
động tôn giáo cho 2 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Đến đầu
năm 2026, Việt Nam đã có gần 28 triệu tín đồ.
Đây là những con số cho thấy đời sống tôn giáo ở Việt Nam không chỉ được bảo
đảm mà còn phát triển ngày càng phong phú, các tôn giáo được tạo điều kiện mở
rộng hoạt động.
Tỉnh Khánh Hòa cũng là địa
phương đa dạng về tôn giáo với 11 tôn giáo hoạt động gồm: Phật giáo, Công giáo,
Tin lành, Hồi giáo, Bàlamôn, Baha’i, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Phật đường Nam
Tông Minh Sư Đạo, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam, Cơ đốc Phục lâm Việt Nam với
tổng 2.946 chức sắc, nhà tu hành, 5.474 chức việc, khoảng 649.500 tín đồ (chiếm
khoảng 28,94% dân số toàn tỉnh), sinh hoạt tại 886 cơ sở tôn giáo, 155 nhóm
sinh hoạt tôn giáo tập trung (trong đó 81 nhóm đã được chính quyền cấp xã chấp
thuận đăng ký). Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có Pháp tạng Phật giáo Việt Nam,
được chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung với 02 nhóm và 77 tín đồ.
Để đáp ứng tốt nhất nhu cầu
sinh hoạt tôn giáo của tín đồ tôn giáo, Nhà xuất bản Tôn giáo thực hiện liên
tục việc cấp phép bản in, đặc biệt, có nhiều ấn phẩm, kinh sách bằng tiếng dân
tộc và tiếng nước ngoài đáp ứng tối đa nhu cầu sinh hoạt tôn giao đúng đắn, phù
hợp với quy định của pháp luật trong các tôn giáo, tín đồ tôn giáo. Nhà nước
cũng áp dụng các quy định về giao đất có hạn mức không thu tiền sử dụng đất đối
với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự hoặc trụ sở của các tổ chức tôn giáo. Điều này
thể hiện tinh thần cởi mở, tôn trọng dân chủ; thừa nhận tôn giáo, tín ngưỡng là
nhu cầu chính đáng của một bộ phận quần chúng nhân dân; sẵn sàng tạo điều kiện
đối với các hoạt động của những tôn giáo đã được nhà nước công nhận.
Thống kê kết quả bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã cho thấy các tôn giáo ở
Việt Nam được tự do về chính trị: tại Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 – 2031,
nhiều chức sắc, chức việc có uy tín, đạo hạnh được quần chúng nhân dân tin
tưởng, bầu chọn vào các cơ quan quyền lực nhà nước các cấp. Có 16 đại biểu là
chức sắc, nhà tu hành và đồng bào các tôn giáo trúng cử đại biểu Quốc hội (tăng
so với con số 5 chức sắc của khóa XV). Đối với Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm
kỳ 2026 – 2031, cơ cấu đại biểu tôn giáo và dân tộc vẫn được đảm bảo theo hướng
“Đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân”. Tại các vùng có đông đồng bào
theo đạo như Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, tỷ lệ chức
sắc và tín đồ trúng cử HĐND cấp xã tiếp tục duy trì ở mức cao tương đương hoặc
cao hơn nhiệm kỳ trước.
Việt Nam là số ít quốc gia
trên thế giới, mà lãnh đạo của hơn 40 tổ chức tôn giáo, với những khác biệt về
giáo lý, giáo luật, nghi thức tôn giáo,… đã ngồi lại cùng nhau để chia sẻ đóng
góp, sáng kiến, tâm tư, nguyện vọng trong xây dựng và phát triển đất nước.
Không nhiều quốc gia trên thế giới, vào các dịp lễ trọng đại của mỗi tôn giáo
luôn nhận được sự quan tâm, hưởng ứng, chúc mừng của đồng bào không theo tôn
giáo, của các cơ quan nhà nước, như những ngày lễ: Phật đản, Vu lan của Phật
giáo, Giáng sinh của Công giáo, Hội Yến Diêu Trì Cung của đạo Cao Đài, lễ hội
Ka-tê của đồng bào Chăm Bà-la-môn, Tết Ramưwan… không chỉ tín đồ mà người dân
cũng hưởng ứng thưởng thức văn hóa - nghệ thuật, tìm về các cơ sở thờ tự để hòa
mình vào không khí đón, rước lễ hội, hòa cùng niềm vui với đồng bào tôn giáo.
Các lễ hội tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được tổ chức với quy mô lớn, trang
trọng, phản ánh chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã và đang được
hiện thực hóa trong đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân nói chung và
người theo tôn giáo nói riêng.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên trách về tôn giáo được quan tâm để đảm bảo
nhằm đảm bảo hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, đặc biệt ngay từ
cấp cơ sở. Trong năm 2025, Sở
Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức
lớp bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng và An ninh cho 150 chức sắc, chức việc; phối
hợp với Trường Chính trị tỉnh tổ chức 03 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Nhà nước
về tín ngưỡng, tôn giáo cho khoảng 230 học viên là cán bộ, công chức cấp xã phụ
trách công tác tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương. Việc giải quyết các nhu cầu
của các tổ chức tôn giáo, giải quyết khiếu nại tố cáo được thực hiện nghiêm
túc. Trong năm 2025, UBND tỉnh đã chấp thuận việc thay đổi tên gọi của ba tổ chức
tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trên địa bàn tỉnh,
giải quyết các vấn đề liên quan tôn giáo, hoạt động tôn giáo (chia tách, sáp
nhập cơ sở tôn giáo trực thuộc, phong phẩm, thuyên chuyển, bổ nhiệm,…). Đồng thời, trong năm, đã
tiếp nhận 12 đơn thư kiến nghị, phản ánh liên quan đến các tổ chức tôn giáo, tổ
chức tôn giáo trực thuộc (03 đơn đã giải quyết theo quy định, 09 đơn thư liên
quan đến vấn đề nội bộ nên đã chuyển cho các tổ chức tôn giáo giải quyết theo
thẩm quyền).
Tuy nhiên, trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay, cùng với những điều kiện thuận lợi, tích cực là
không ít khó khăn, phức tạp liên quan đến công tác tôn giáo ở nước ta. Các tôn
giáo, hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện hoặc “du nhập” trái phép từ nước ngoài
vào nước ta kéo theo sự “trỗi dậy”, trở lại của các tổ chức mê tín, phản động,
lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta.
Điều này đặt ra những vấn đề phức tạp, đòi hỏi Nhà nước cần xử lý đúng đắn, phù
hợp cũng như nhận thức đúng đắn của các tầng lớp nhân dân trong công tác này. Ở
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, tôn giáo luôn là “vùng đất màu mỡ” trong âm mưu diễn biến
hòa bình, bạo loạn của các thế lực thù địch, phản động. Đặc biệt, Việt Nam là
nhóm 12 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia ở khu vực châu Á Thái Bình Dương
có mức độ đa dạng tôn giáo rất cao. Do đó, những lực lượng chống đối luôn tìm
cách lợi dụng tự do tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động
chống đối, nhằm làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp vào công
việc nội bộ của nước ta diễn ra với tần suất ngày càng dày, âm mưu ngày càng
thâm hiểm. Chúng luôn bóp méo, xuyên tạc, vu cáo chính sách, pháp luật của Nhà
nước Việt Nam là bóp nghẹt tự do tôn giáo, đòi tôn giáo phải độc lập
và không chịu sự quản lý của Nhà nước. Đây là những yêu cầu, đòi hỏi phi lý,
nhằm tạo ra những phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc, nhà tu hành của
các tôn giáo. Các tôn giáo ở ViệtNamdù nội sinh hay ngoại nhập, cần phải
phát triển hòa đồng với văn hóa dân tộc và dưới sự quản lý của Nhà nước. Đây là
yêu cầu khách quan, bởi vì không có một tôn giáo nào đứng ngoài quốc gia, dân
tộc và đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Nhà nước cần thiết sử dụng pháp
luật để điều chỉnh hoạt động của các tôn giáo, hành vi của của tín đồ, chức sắc
phù hợp với lợi ích chung của xã hội.
Chính sách nhất quán của Việt Nam về tự do tôn giáo đã
được khẳng định thông qua các văn kiện của Đảng, quy định pháp luật của Nhà
nước và thực tiễn thực hiện công tác quản lý nhà nước về tôn giáo. Tự do tôn
giáo cần được duy trì trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm mục tiêu tự do tôn
giáo là nhằm hướng đến thực hiện các quyền tự do, dân chủ cho Nhân dân và xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.Chính trị quốc
gia Sự thật, H, 2026, tập I , II.
2. Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
3.
Quốc hội, Luật số 02/2016/QH14 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
4.
Quốc hội, Luật số 07/2026/QH16 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm
2026, có hiệu lực
từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
5.
Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004.
6. Trang thông tin điện tử Ban Tôn giáo Chính phủ - http://btgcp.gov.vn/plus.aspx/vi/1.
7. Hệ thống thông tin Tuyên
giáo và Dân vận của Ban Tuyên giáo và Dân vận trung ương - https://tuyengiaodanvan.vn/vn.
8. Ủy ban nhân dân tỉnh
Khánh Hòa, Báo cáo tình hình công tác dân
tộc và tín ngưỡng tôn giáo năm 2025 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2026.